29 tháng 12, 2011

ĐẠI CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ: ĐỐI KHÁNG "MÔ HÌNH TRUNG QUỐC"

                                                                               Thẩm Húc Huy

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, ngày càng có nhiều dấu hiệu về sự xuất hiện một cuộc chiến tranh lạnh mới giữa Trung Quốc và Mỹ. Mấy tháng gần đây, những động thái của Ngoại trưởng Mỹ đã thực sự chứng minh giả thiết nói trên, thể hiện một đại chiến lược hoàn toàn theo chủ nghĩa hiện thực. Đối với Bắc Kinh, đây là thách thức nghiêm trọng nhất kể từ sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cho thấy “thời kỳ cơ hội chiến lược” 10 năm (dành cho Trung Quốc) kể từ sau sự kiện 11/9 đã chấm dứt.
Sự điều chỉnh của bất kỳ chính sách quy mô lớn nào tự nhiên đều phải trải qua sự cân nhắc, nung nấu của nội bộ. Thời gian đầu khi Tổng thống Obama nhậm chức, tuy đã lấy “sự thay đổi” làm cương lĩnh chính trị, nhưng vẫn luôn cẩn thận xử lý các mối quan hệ với nhân viên ngoại giao, quân sự của nhiệm kỳ trước, nên đã bảo đảm được tính kế tục. Ví như tiếp tục bổ nhiệm Robert Gate – người của đảng Cộng hoà – làm Bộ trưởng Quốc phòng; cố vấn an ninh quốc gia của Obama – James Jones – cũng là người mà hai đảng có thể chấp nhận và đã từng được cựu Ngoại trưởng Rice nhiều lần đề cử vào nội các… Êkíp này không tương đồng lắm với chiến lược ngoại giao của Hillary Clinton, cho đến khi Thomas Donilon (người luôn chủ trương tăng cường bố trí tại châu Á – Thái Bình Dương) trở thành cố vấn an ninh quốc gia, Panetta của đảng Dân chủ kế nhiệm ghế Bộ trưởng Quốc phòng, thì “con đường quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương” mới nhận được sự phối hợp toàn lực. Con đường này đã đảm bảo duy trì được thực lực và chi phí quân sự sau khi rút khỏi Irắc , nó đã phản hồi được sự bất mãn của các doanh nghiệp đối với thương mại Trung – Mỹ, có được sự ủng hộ nhất trí của giới ngoại giao (trừ những người theo chủ nghĩa bảo thủ mới), đây cũng là bậc thang đi xuống tốt nhất cho quá trình “hoàn thành nhiệm vụ ở Trung Đông”. Có thể tin rằng nếu có sự thay đổi chính đảng cầm quyền, chiến lược này cũng khó bị xoay chuyển. Chiến lược đó bao gồm 4 điểm sau:
1. Phức tạp hoá các diễn đàn đa phương đối chói lại “diễn biến hoà bình kiểu Trung Quốc”
Các khẩu hiệu ngoại giao “trỗi dậy hoà bình”, “phát triển hoà bình” hay là “xã hội hài hoà” của Trung Quốc hiện nay đều không thể xoá bỏ mối lo lắng của Mỹ, ngược lại còn bị cho rằng Trung Quốc đang truyền bá rộng rãi “thuyết diễn biến hoà bình” của họ, cũng chính là Bắc Kinh có chủ định truyền bá hình thái ý thức “mô hình Trung Quốc” thông qua việc mở rộng giao lưu kinh tế với các nước (tuy rằn Ôn Gia Bảo đã nhiều lần phủ nhận), từ đó tăng cường sức ảnh hưởng ở các nơi. Obama đang hy vọng đồng thời với việc tăng cường hợp tác kinh tế với Trung Quốc, chủ động chế ngự sự thâm nhập của “mô hình Trung Quốc”, vì thế những vấn đề phi kinh tế như tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, mâu thuẫn xã hội của Hoa kiều ở các nước… đều được Mỹ khuyến khích đưa ra thảo luận trên các diễn đàn kinh tế.
Trước đây, “thuyết về mối đe doạ từ Trung Quốc” từng xuất hiện ở Đông Nam Á, và Trung Quốc từng giải thích rằng sự tăng cường năng lực quân sự của họ trợ giúp cho hoà bình khu vực và lấy ví dụ chứng minh rằng bản thân Trung Quốc thực sự có tham gia tiến trình hoà bình thế giới, từ đó chứng minh rằng không nên lẫn lộn giữa vấn đề kinh tế và địa chính trị. Lần này, Mỹ lại cố ý để hai vấn đề này móc nối lại với nhau tại Hội nghị cấp cao Đông Á. Trước đây, khi luôn áp dụng chủ nghĩa đơn phương, Mỹ thấy những diễn đàn khu vực đa phương này không phải là nơi tham gia có hiệu quả, thậm chí còn bị Trung Quốc nhân sơ hở tiến vào; song Mỹ nay lại muốn thâm nhập vào những diễn đàn đa phương này, chủ trương sử dụng diễn đàn này thảo luận “mọi vấn đề” nhằm tránh để nó trở thành diễn đàn “diễn biến hoà bình kiểu Trung Quốc”. Mười năm qua, Trung Quốc đã dùng danh nghĩa hợp tác kinh tế để dụng nên không ít diễn đàn kiểu này, ví như diễn đàn hợp tác hữu nghị Trung Quốc – châu Phi, diễn đàn hợp tác kinh tế thương mại Trung Quốc và các nước láng giềng Bồ Đào Nha… và đã có những hiệu quả rất lớn. Tin rằng các diễn đàn này sẽ đều bị Mỹ sắp đặt để các nước hữu hảo từng bước chính trị hoá.
2. Móc nối kinh tế – quân sự đối chọi lại phân tách kinh tế – quân sự
Ngoài việc “phức tạp hoá” các diễn đàn đa phương, một sách lược khác của Mỹ là tăng cường chuyển giao các vũ khí quân sự tiên tiến cho các nước và khu vực trọng điểm, một lần nữa dùng “chiếc gậy” này để lôi kéo họ quay trở về vũ đài kinh tế do Mỹ chủ đạo, đặc biệt là Việt Nam, Philíppin và Đài Loan. Dưới tác động của sách lược này, ở một loạt nước xung quanh Trung Quốc đã xuất hiệ chiến lược “kinh tế dựa Trung Quốc, quân sự dựa Mỹ”, đây quả thực là kiến nghị mà Lý Quang Diệu của Xinhgapo từng đưa ra nhiều năm trước với hy vọng giữ Mỹ ở lại châu Á – Thái Bình Dương. Tư duy của Lý Quang Diệu thật ngẫu nhiên trùng hợp với khẩu hiệu mà Hồng Công lựa chọn, đó là “ăn của chính quyền, bỏ phiếu cho dân chủ”. Tuy nhiên, Mỹ lại cách Đông Nam Á  quá xa, Oasinhttơn chỉ có thể giúp đỡ một đồng minh  về mặt quân sự để nước nhỏ có chỗ dựa vào. Do lực lượng phòng vệ Nhật Bản luôn khó khăn khi đảm trách vai trò này, nên hiện nay dường như Oasinhtơn đã phân cho Ôxtrâylia giữ vai trò “người phát ngôn” của Mỹ tại khu vực.
Gần mười năm qua, Ôxtrâylia tích cực đề xuất “Xa rời phương Tây, hội nhập châu Á”, tự coi mình là nước lớn ở châu Á – Thái Bình Dương, khi Timor Leste độc lập, Ôxtrâylia đã bắt đầu tích cực đảm trách  công tác an ninh khu vực. Tin rằng Ôxtrâylia sẽ từng bước tăng cường tham gia các cuộc tập trận chung với các nước Đông Nam Á, làm hậu thuẫn cho tranh chấp chủ quyền ở Trường Sa hoặc Hoàng Sa. Phái diều hâu ở Trung Quốc vốn kiến nghị sớm xuất binh thu phục một vài đảo mà Việt Nam, Philíppin đang chiếm giữ để cảnh cáo thị uy, nhưng khi có vai trò mới của Oxtraylia, có sự ám chỉ mạnh mẽ của Hillary trong diễn giải biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) là “biển Tây Philíppin” thì kiến nghị đó càng trở nên mạo hiểm. Đáng chú ý là, Mỹ cũng đang lôi kéo các nước khác tham gia hệ thống quân sự dự bị, ví như gần đây Obama lại khuyên Malaixia gia nhập Sáng kiến An ninh chống phổ biến vũ khí huỷ diệt (PSI)…
3. Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TTP) đối chọi lại khu vực mậu dịch tự do Đông Á.
Sau sự kiện 11/9, Mỹ luôn mặc định để Trung Quốc đảm trách vai trò nước lớn ở khu vực Đông Á, nhưng sau đó đã phát hiện sức ảnh hưởng của Trung Quốc không còn giới hạn trong khu vực này nên đã quyết định trợ giúp những đối thủ diễn đàn đa phương mở rộng ảnh hưởng ra toàn cầu. Tại hội nghị thượng đỉnh APEC, Mỹ đã thúc đẩy thành lập TPP, mới nghe thì rất to tát, nhưng ngưỡng của thương mại tự do lại  quá cao, kỳ thực không dễ dàng mở rộng thực hiện. Tập đoàn nông nghiệp của Nhật Bản đã cực lực phản đối gia nhập TPP, thậm chí còn cho rằng đây là âm mưu của Mỹ, dùng danh nghĩa bao vây Trung Quốc để “tiêu hoá” Nhật Bản. Nhưng theo khách hàng, việc này đã nâng cao năng lực mặc cả của Nhật Bản, khiến Nhật Bản càng có thêm quyền chủ đạo lớn hơn trong đàm phán hiệp định thương mại tự do với Trung Quốc và Hàn Quốc.
Cùng lý đó, sau này, Trung Quốc tiến hành đàm phán song phương với bất kỳ nước nào, nước đó đều có thể quay sang TPP “hỏi giá” rồi quay lại “mặc cả” với Trung Quốc, điều này nhằm triệt tiêu sách lược xây dựng các diễn đàn đa phương có hiệu quả những năm qua của Trung Quốc. Nếu như Mỹ đưa ra toàn bộ những yêu cầu gia nhập TPP mà Trung Quốc không thể đạt được, sau đó biến nó thành “sách tham khảo” cho các thực thể kinh tế không đáng để ý như Brunây, Xinhgapo, Niu Dilân, cho dù ảnh hưởng thực tế như thế nào thì đều đã phá hoại sự sắp xếp của Trung Quốc.
4. Lôi kéo toàn diện các nước xung quanh Trung Quốc đối chọi lại sự dung dưỡng sân sau Trung Quốc.
Trước kia Mỹ từng dựa vào Trung Quốc để trao đổi, giao lưu  với các nước mà Trung Quốc có sức ảnh hưởng truyền thống như Bắc Triều Tiên, Mianma và Pakixtan, nhưng điều này lại khiến những nước này trở thành nước chư hầu “hợp pháp” của Trung Quốc khiến Mỹ bắt đầu bất an. Đặc biệt, Trung Quốc mấy năm gần đây có bước đột phá về mặt này, ví như Neepan kể từ sau khi phái Maoít lên nắm quyền đã trở nên rất thân Trung Quốc, hiện tượng Trung Quốc hoá các địa phương ở biên giới nước này cũng vô cùng rõ rệt. Vì thế, chính sách của Obama đã chuyển thành nỗ lực lôi kéo các nước bên cạnh Trung Quốc, bỏ qua những vấn đề nhân quyền, hy vọng họ tạo thành áp lực đối với biên giới Trung Quốc, đây là sách lược điển hình của chủ nghĩa hiện thực, là cách mà những người theo chủ nghĩa bảo thủ mới như Bush con không áp dụng. 
Ví dụ rõ ràng nhất là Việt Nam – nước về danh nghĩa vẫn là nước cộng sản – cũng được tham gia TPP, đây là điều Bắc Kinh khó chấp nhận nhất; tiếp đó là Mianma – nước đã từng là trọng điểm công kích của Mỹ. Các tổ chức quốc tế tuy phổ biến không công nhận sự cải cách của Chính quyền quân sự Mianma là “thực sự dân chủ”, song Mỹ đã có những động thái rõ ràng thể hiện muốn phá băng; còn cả nước tự xưng là chiến hữu đáng tin cậy của Trung Quốc là Bắc Triều Tiên, chính quyền của họ còn tàn khốc hơn Iran rất nhiều, Oasinhtơn tuy vẫn tăng cường diễn tập quân sự với Hàn Quốc, song giới ngoại giao lại luôn kỳ vọng tranh thủ Bình Nhưỡng kiềm chế Bắc Kinh, vì thế Mỹ không có kế hoạch tiêu diệt chính quyền dòng họ Kim giống như đã từng làm đối với Saddam Hussein. Đối với những nước láng giềng của Trung Quốc, lập trường lý tưởng nhất là tấm gương Mông Cổ mà Mỹ dựng lên: những năm gần đây, Mỹ đã thúc đẩy “Quỹ thách thức Thiên niên kỷ”, móc nối viện trợ nước nghèo và hình thái ý thức với nhau, Mông Cổ và Philíppin là những nước tiếp nhận lượng lớn viện trợ của Mỹ. Muốn các đồng minh ở sân sau của Trung Quốc không phản chiến, Mỹ cần duy trì và thắt chặt mối “hữu nghị” này, tuy cái giá của cơ hội tăng lên, song Bắc Kinh cũng không còn sức lực để đi tới sân sau của Mỹ nữa./.
(Bài của Phó Giáo sư Thẩm Húc Huy – Chủ nhiệm Khoa Quan hệ đối ngoại Học viện Giáo dục Hồng Công đăng trên “Minh báo” số ra ngày 22 và 23 tháng 11).

Nguồn:BS/TTXVN (Hồng Công 1/12)

LỢI ÍCH DÂN TỘC CỦA TRUNG QUỐC LÀ GÌ? TRONG LỊCH SỬ VÀ HIỆN TẠI, TRUNG QUỐC ĐÃ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ĐÓ VỚI CÁC NƯỚC XUNG QUANH VÀ NƯỚC LỚN NHƯ THẾ NÀO?

                                                                              Dương Danh Dy

Một bạn trẻ đã gửi thư nhờ tôi giải đáp câu hỏi trên. Tôi không phải là nhà lịch sử nên đã chần chừ chưa dám.
Tuy vậy vì thấy đây là một vấn đề mà bất cứ ai quan tâm đến tình hình Trung Quốc đều không thể bỏ qua nên tôi mạnh dạn nói ra mấy suy ngẫm của mình .Nếu có điều gì sơ suất rất mong được thông cảm và lưọng thứ.

                                                                          *         *

                                                                              *
Để trả lời câu hỏi này trước hết cần làm rõ vấn đề: Trung Quốc đã quan niệm về lợi ích dân tộc lớn nhất(ngưòi viếtmạn phép thêm hai chữ “lớn nhất” vào để làm nổi bật trọng tâm vấn đề) và những biến thiên chủ yếu của quan niệm này qua các thời đại lịch sử là như thế nào?
Căn cứ vào sự hiểu biết còn rất nông cạn về đất nước đã có mấy ngàn năm lịch sử đó, người viết thấy:
     1. Từ lúc mới dựng nước cho đến khi kết thúc chế độ phong kiến, quan niệm về lợi ích dân tộc lớn nhất của Trung Quốc đã thể hiện rất rõ trong vấn đề không ngừng bành trướng, xâm chiếm lãnh thổ các nước xung quanh và duy trì uy thế của “thiên triều” đối với họ.
         Mọi ngưòi đều biết khi bắt đầu dựng nước, Trung Quốc lúc đó chỉ gồm vùng đất gồm một phần tỉnh Thiểm Tây, Hà Bắc, Sơn Tây.. tại vùng trung du sông Hoàng Hà, có diện tích bước đầu theo người viết phỏng đoán, trải qua mấy đời Hạ, Thương kéo dài năm bẩy trăm năm cũng chỉ được khoảng mấy trăm ngàn km2, nhưng sau đó, qua các thời Xuân Thu, Chiến Quốc qua các cuộc lợi dụng danh nghĩa phò “thiên tử nhà Chu” và nhiều lý do khác,  “ngũ bá” và mấy nước lớn khác đã không ngừng mở rộng lãnh thổ được “phân phong” từ trước bằng cách chinh phục, sáp nhập hàng trăm nước nhỏ khác vào lãnh thổ của mình thành 7 nuớc lớn. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng diệt 6 nước, lãnh thổ Trung Quốc đã mở rộng lên nhiều lần . Tuy vậy đến thời đó 3 tỉnh đông bắc (Liêu Ninh, Cát Lâm, Hắc Long Giang) Trung Quốc, vùng Nội, Ngoại Mông, vùng Lan Châu, Tân Cưong, Tây Tạng, Quí Châu, Vân Nam hiện nay vẫn chưa thuộc về Trung Quốc. Nhà Mãn Thanh chiến thắng nhà Minh vào thống trị Trung Nguyên đã mang theo 3 tỉnh đông bắc về cho Trung Quốc rồi trải qua sự bành trướng xâm chiếm lãnh thổ của nhiều đời vua mới lấy được Quí châu, Vân Nam…, để đến đời Càn Long, sau khi chiếm Tân Cương, buộc Tây Tạng thần phục thiên triều.. diện tích Trung Quốc mới rộng lớn và ổn định ở mức 9,6 triệu km2, đứng thứ ba trên thế giới như ngày nay. Thế nhưng trong thời gian lịch sử tưong đối dài này,  theo tư liệu của Trung Quốc thì:
-Vùng đông bắc Hắc Long Giang, vùng ngoại Hưng An Lĩnh, đảo Sakhalin và vùng ven bờ biển Nga tại đó, với tổng diện tích là 1,5 triệu km2vốn là lãnh thổ của Trung Quốc đã là lãnh thổ thuộc Nga. Ngoài ra còn 800.000km2 lãnh hải của Trung Quốc trên vùng biển Nhật Bản cũng rơi vào tay ngưòi Nga từ thời Sa hoàng.
-Nước Cộng hoà Mông Cổ vốn là Ngoại Mông với diện tích 2 triệu km2 vốn thuộc Trung Quốc do Sa hoàng xúi giục đã tách ra thành một nước độc lập.
-Vùng nam Tây Tạng diện tích 90.000 km2, vùng cao nguyên bắc Tây Tạng diện tích 30.000 km2 đang bị Ấn Độ chiếm giữ.
-Hơn 60 đảo tại quần đảo Trường Sa và 800.000 km2 lãnh hải tại vùng này đang bị một số nước trong khu vực chiếm giữ, khai thác
-Tranh chấp với Hàn quốc và Nhật Bản khoảng 300.000km2 lãnh hải
- Quần đảo Senkaku(Điếu Ngư) tổng diện tích khoảng 6,3km2 đang bị Nhật Bản chiếm đóng toàn bộ.
Và một số tranh chấp về lãnh thổ nữa với Myanmar, Bắc Triều Tiên, Butan, Ceylan…
(Nguồn Mạng Trung Hoa võng và một số mạng chính thức của Trung Quốc khác, ngày 21/6/2007. 7/4/2009 và 11/10/2010 )
Từ những sự kiện trên có thể thấy: bành trưóng lãnh thổ, xâm chiếm lãnh thổ và duy trì uy thế thiên triều với các nước xung quanh là lợi ích dân tộc lớn nhất xuyên suốt của Trung Quốc kể từ khi dựng nước đến hếtthời phong kiến Chính vì vậy chỉ trong vòng trên dưói 2000 năm, họ đã mở rộng diện tích đất nước lên chí ít là hơn 30 lần(đó là chưa kể số hàng triệu km2 lãnh thổ, lãnh hải diện tích mà hiện nay họ nói là đã bị mất)
Tuy nhiên cần thấy rõ một điều, khi chính quyền Trung Quốc mạnh hơn hay tạm thời yếu hơn các nước xung quanh, lợi ích dân tộc bành trướng lãnh thổ này đã được thể hiện, được giải quyết bằng những biện pháp rất khác nhau:
Khi chính quyền Trung Quốc mạnh hơn nước xung quanh, họ không ngần ngại dùng mọi lý do(nhiều khi rất ngang ngược như vì “vô lễ với thiên triều”) để gây hấn. Họ đã đánh vào tận sào huyệt quân Mông Cổ để chiếm lấy cả vùng Nội, Ngoại Mông tiêu diệt một đế quốc vốn hùng mạnh, hay “nuốt gọn” cả vùng Tân Cương với diện tích trên 1 triệu km2 trong một thời gian không dài.
Nhưng khi chính quyền Trung Quốc tạm thời yếu hơn thì họ lại có nhiều “kế sách” để giữ cho bằng được phần lãnh thổ đã có, và chuẩn bị cho sự bành trướng sau này. Xin đưa vài ví dụ:
- Phong kiến Trung Quốc(bắt đầu từ Tần, Hán..) đã nối tiếp nhau xây dựng và củng cố Vạn lý Trường thành để ngăn chặn quân Hung Nô thời đó rất hùng mạnh vào đánh phá và xâm phạm lãnh thổ. Sau mấy trăm năm giằng co, hoà hiếu, cống tiến…, cuối cùng họ đã diệt được Hung Nô và chiếm được vùng thảo nguyên rộng lớn của họ.
-Cuối thời Hán, thời lưỡng Tống… khi chính quyền trung ương suy yếu, để bảo vệ lợi ích dân tộc-giữ toàn vẹn lãnh thổ, Trung Quốc đã không ngần ngại “cúi đầu” trước các phiên thuộc mạnh hơn như Hung Nô, Tây Hạ, Liêu, Kim bằng cách tiến cống vàng, bạc, châu báu và gái đẹp.(Thời Hán người đẹp Chiêu quân phải cống Hồ. ..Năm 1004 trước sự tấn công của triều Liêu nhà Tống buộc phải ký hoà ước, mỗi năm Tống phải nộp cho Liêu 10 vạn lạng bạc, 20 vạn tấm lụa v.v.)
-Khi chưa đủ sức bành trướng lãnh thổ họ thường dùng kế “tạm thời chung sống hoà bình” mở rộng giao thương buôn bán, cho phép dân cư vùng biên giới kết hôn với dân nước xung quanh…, kiên trì chờ đợi đến khi có thời cơ sẽ xâm chiếm . Khi cần họ sẵn sàng mang cả công chúa lá ngọc cành vàng ra đánh đổi, thực hiện mưu kế (công chúa Văn Thành đời Đường lấy vua Tây Tạng là một ví dụ)
-Khi đụng đối tượng lớn mạnh hơn, như từ sau cuộc chiến tranh Nha Phiến, Trung Quốc đã cam chịu “từ bỏ một phần lợi ích lớn nhất” như cắt nhượng một phần lãnh thổ cho các cường quốc lớn mạnh hơn ., nhưng bên trong họ không cam chịu mà vẫn “ghi tâm khắc cốt” những vùng lãnh thổ đã mất từ thế hệ này đến đến thế hệ khác, đợi thời cơ giành lại. Như vùng đất và lãnh hải Trung Quốc nói là bị Nga hoàng chiếm nêu trên, hoặc vùng đất rộng lớn ở Tây Tạng bị đế quốc Anh khi xâm lược Ấn Độ vạch đường phân giới Macmahon qui về Ấn Độ, như đảo Đài Loan một thời bị Nhật Bản chiếm đóng v.v..( Theo thống kê của phía Trung Quốc, kể từ ngày 27/5/1841 đến ngày 22/12/1905 chính phủ Mãn Thanh đã buộc phải ký 38 điều ước bất bình đẳng với các cưòng quốc phương tây và Nga Nhật, cắt nhượng nhiều vùng lãnh thổ và bồi thường nhiều triệu lạng bạc. Một ví dụ, theo hiệp uớc Nam Kinh Trung Anh năm 1841, Trung Quốc phải nhưòng Hồng Công cho Anh(dưói hình thức cho thuê 99 năm), bồi thường 21 triệu lạng bạc(gồm tiền đền thuốc phiện bị tiêu huỷ 6 triệu lạng bạc, nợ thưong mại 3 triệu lạng, chi phí quân sự 12 triệu lạng, thời hạn trả xong là 4 năm), và mở cửa 5 cảng Quảng Châu, Phúc Châu, Hạ Môn, Ninh Ba, Thượng Hải, quan chức và thương nhân Anh được tự do thông thương, qua lại tại 5 cửa khẩu này v.v…
       2 .Thời Trung Hoa Dân Quốc(1911-1949) Thời này vẫn duy trì quan niệm truyền thống lợi ích dân tộc lớn nhất với các nước xung quanh như trước, nhưng có mấy điểm đáng lưu ý sau:
         -Dù giữa Quốc Dân đảng đang nắm chính quyền và Đảng Cộng sản đang đấu tranh một mất một còn với nhau, nhưng để chống hoạ xâm lăng của phát xít Nhật có thể làm mất nước, hai bên Quốc, Cộng đã “bắt tay đoàn kết chống kẻ thù chung trong cuộc chiến tranh chống Nhật cho tới lúc toàn thắng năm 1945”
-Tuy chính quyền Quốc Dân đảng chưa đủ mạnh để bành trướng trên biển về thực tế nhưng năm 1947 họ đã “ngang ngược vẽ đường 9 khúc vào bản đồ Biển Đông của họ”, đây là một kiểu bành trướng lãnh thổ trên giấy .
-Trung Hoa Dân Quốc cam chịu áp lực của Liên Xô, không thể chống việc thành lập nước Cộng hoà Nhân Dân Mông Cổ, nơi vốn được Trung Quốc coi là lãnh thổ cũ, là vùng ảnh hưỏng của mình từ lâu đời. Nhưng vẫn ghi ván đề này vào sử sách đế các thế hệ nối tiếp không quên.
Nhìn chung chính quyền Quốc Dân đảng không giữ được thế “thiên triều” với các nước xung quanh như thời trước vì sức mạnh Trung Quốc lúc này yếu kém.
         
3. Thời Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa(1949-2011)
          Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa dưới thời lãnh đạo của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình vẫn coi bành trướng lãnh thổ là lợi ích dân tộc tối cao không thua kém các triều đại trước, nhưng đã có bước bành trướng mới trên biển. và qua từng giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước, họ đã dùng những biện pháp khôn ngoan, tàn bạo để từng bước đưa “uy thế thiên triều” với các nước xung quanh trước đây lên thành “vai trò cưòng quốc khu vực, rồi một cực, rồi siêu cưòng của thế giới.
- Một ví dụ: thời mới thành lập nước dù phải “nhất biên đảo” về Liên Xô, nhưng năm 1950 sau khi sang Liên Xô ký “hiệp định đồng minh tương trợ hữu hảo” trên đường đi xe lửa trở về nước mỗi khi qua một ga lớn, Mao Trạch Đông đều được mời xuống tham quan, nghỉ ngơi. Nhưng khi tới Ulan Udểutái với thưòng lệ, ông nhất định không chịu xuống và yêu cầu xe lửa chạy ngay dù phía Liên Xô đã bố trí đón tiếp. Hỏi Trần Bá Đạt, tuỳ tùng có biết đây là nơi nào không, khi Trần Bá Đạt ngơ ngác tỏ ra không biết,  ông đã tức giận nói: hãy nhớ lấy: “nơi đây trong lịch sử có tên gọi là Ô Kim Khắc, đó là nơi Tô Vũ của chúng ta đã từng chăn cừu, là lãnh thổ của chúng ta.”
Để trở thành nước lớn có ảnh hưỏng trong khu vực, Trung Quốc đã không ngần ngại giúp Bắc Triều Tiên láng giềng “chống Mỹ viện Triều”. Với cái giá “ thương vong gần 1 triệu người” trong đó có cả con trai Mao Trạch Đông, Trung Quốc đã thu được điều mong muốn, chỉ sau 4 năm thành lập nước đã có được vai trò nước lớn khu vực(tham gia hội nghị Geneve về Triều Tiên và Đông Dương năm 1954) và bảo vệ được nước chịu ảnh hưỏng của mình.
- Để vươn lên thành một cực, thành một nước lớn trong thế giới hai cực sau Yalta, Trung Quốc dù còn là nước đang phát triển, chưa giầu có nhưng đã giương ngọn cờ chống hai nước lớn, viện trợ rất nhiều cho Việt Nam chống Mỹ cũng như viện trợ cho một số nước chậm phát triển khác. Để thực hiện lợi ích dân tộc này, hầu như Trung Quốc không tính tới hiệu quả kinh tế. Từ cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, nhà cầm quyền Bắc Kinh rất biết “lúc tiến lúc lùi”, biết “giấu mình chờ thời”..;, chứ không phải lúc nào cũng “đối đầu” trong xử lý quan hệ với Mỹ. Nhưng gần đây đã có một số tín hiệu cho thấy Trung Quốc sau khi trở thành cưòng quốc thứ hai trên thế giói về kinh tế đang có tham vọng vượt Mỹ vào những năm 20 của thế kỷ này!
-Để xác định vị thế nước lớn, Trung Quốc sẵn sàng gây chiến tranh với 3 nước láng giềng, trong đó có Liên Xô đồng minh cũ, Ấn Độ vốn một thời là láng giềng hữu hảo và nhất là cuộc chiến tranh biên giói tháng 2 năm 1979 với Việt Nam nước đồng minh thân cận là một ví dụ điển hình(tất nhiên việc Trung Quốc gây chiến với 2 nuớc trên và xâm lược Việt Nam còn có một số nguyên nhân khác). Trung Quốc hiện đại đặt uy thế nước lớn-lợi ích dân tộc vào vị thế rất cao trong xử lý quan hệ quốc tế.
-Trung Quốc cũng là nước 3 lần chủ động gây ra xung đột vũ trang trên biển để chiếm toàn bộ Hoàng Sa của và 7 đảo bãi trên quần đảo Trưòng Sa của Việt Nam. CHND Trung Hoa đã “thừa kế” đưòng chín khúc trên giấy trên Biển Đông của chính quyền Quốc Dân đảng trước đây và ý đồ biến nó thành sự thực, chí ít cũng để thêm con bài mặc cả với các nước xung quanh. Trung Quốc muốn bá chiếm Biển Đông và là nguồn gốc duy nhất có thể gây ra xung đột vũ trang lớn ở Biển Đông.
-Trong xử lý vấn đề biên giới( có tranh chấp lãnh thổ) với các nước mạnh hơn(Nga) Trung Quốc một tấc đất cũng không nhường, với các nước yếu hơn(Việt Nam), Trung Quốc một ly đất cũng muốn chiếm.
-Tuy vậy khi thấy chưa thu hồi vùng đất đã mất có lợi cho minh lớn hơn là thu hồi ngay, Ban lãnh đạo Bắc Kinh đã “sáng suốt” không đụng tới(như đã không thu hồi Hồng Công, Ma cao ngay năm 1949, và cả đến tận bây giờ), hoặc khi thấy chưa chắc đã thu hồi được hoặc có thể thu hồi được nhưng “lợi bất cập hại”, thì Ban lãnh đạo Bắc Kinh sẽ cố “nặn” ra cách làm, vẫn bảo lưu được “chủ quyền, uy thế nước lớn” mà không “mất mặt”. Chỉ cần nghe họ cao giọng tự ca ngợi “sáng kiến vĩ đại” về việc đưa ra cái chủ trương được gọi là “một nước, hai chế độ” trong xử lý quan hệ  với  Đài Loan mấy chục năm qua và chưa biết bao giờ mới giải quyết xong “cục xưong khó nuốt” này, là đủ thấy hết “ sĩ diện nước lớn” của họ “cao” tới mức độ nào.
                                                              
                                                       Hà nội một ngày cuối tháng 11 năm 2011

28 tháng 12, 2011

VỀ VIỆC CẢI CÁCH PHONG TỤC

Nguyễn Trường Tộ

NƯỚC NHÀ KHÔNG NÊN KHINH SUẤT ĐIỀU NHỎ
Bẩm, tôi nghe: Triều đình làm việc tươm tất đầy đủ. Lại nói “muôn điều mục đều trưng lên”. Nói “mục” tức là chỉ điều nhỏ (như là lưới, “cương” là cái diềng, mục là từng khoảng trong mặt lưới). Quan chánh đời Đường, Ngu nói đến thuật muông chim. Thầy Mạnh Tử nói đến Vương đạo mà trù đến việc nuôi heo, gà; Quản Trọng làm tướng nước Tề, có đặt nữ thương. Bính Cát tướng nhà Hán mà hỏi đến trâu, thỏ; Châu Lễ, vườn nào không trồng cây thì bị phạt; Nhà Tần, ai bỏ tro ngoài đường thì bị tội… Xem đó thì biết rằng làm việc quốc gia không nên khinh suất những việc nhỏ.
Việc Trung Quốc kể trên, còn là sơ lược. Đến như phương Tây thì càng tương tế hơn, như: tập lội có trường, lấy phân có phép, đổ rác có xe, quét đường có phu; phàm việc thường hành trong dân gian, không có việc gì là không đặt chức để coi sóc việc ấy. Thành muôn việc đều theo thứ lớp tiến hành. Vì công việc dầu nhỏ mà khắp nơi đều có, chứa lại thành việc lớn.
 VIỆC NHỎ MÀ CẦN THIẾT VỚI NHÂN SINH
Tạo hóa sinh vật từ cái lớn không có bờ bến, cho đến cái nhỏ không nhìn thấy được trời vẫn sinh thành và chiếu cố đến cả. Tức như các đảo san hô ngoài biển, hợp lại rộng đến đôi ba ngàn dặm, có người và vật sống trên đảo ấy, mà nguyên chất đảo ấy là do xác trùng san hô tý tý chất chứa keo dính lại mà thành. Trên mặt đất về tính phì nhiêu ở trên, đều do cứt trùn cùng lá mục… chứa chất lâu đời, động trong núi, do xác cá, xác trùng nhưng kết lại mà thành (nhà địa học đã xét nghiệm, đó là việc thiệt, không phải nói lý), thành món đại hữu dụng cho đời (như xác nghêu, hến, chế ra vôi cùng các vị thuốc kim thạch v.v…) đều từ những cái nhỏ đó cả, mà lại có cơ màu nhiệm sinh hóa mãi mãi không đời nào dứt. Tuy là vật nhỏ mà loài giống không tiêu diệt thành vật đại quan trên đời. Đấy là toàn đức của trời của tạo vật…
Trong vật trời sinh, loài người khác hơn muôn vật, vì biết học theo đạo trời. Nếu chỉ có tánh tri giác vận động mà không có năng lực kinh dinh bố trí, thì sao gọi được là thiêng hơn loài vật? Bởi vậy đã có loài người, đầu tóc không thể để bùm xùm như đống cỏ, thì bịt khăn đội mũ: thân thể không lẽ để trần truồng, thì bận áo quần. Không thể sống trần trụi giữa đất trống không, thì làm ra nhà cửa; không thể ngồi nằm dưới đất được, thì sắm ra giường ghế; chân không đi trần được, thì sắm ra giày dép… Phàm những vật dụng người đời sắp đặt ra để hưởng dụng, khác với loài vật là tại chỗ ấy.
Nay nhân dân nước ta tuy đã biết dùng những cơ xảo để giúp sức người. Cơ xảo xứ ta còn nhiều khuyết điểm cái đó chưa nói, chỉ nói những điều nhỏ và dễ làm mà khuyết điểm còn chan chan. Xin lược kể như dưới:
 NHỮNG KHUYẾT ĐIỂM VỀ VIỆC NHỎ (QUANH ĐÔ THÀNH HUẾ) CÓ THỂ CẢI CÁCH ĐƯỢC.
Kinh thành là một nơi tụ hội cả thanh danh văn vật và oai nghi lễ phép từ đó mà ra. vậy mà trừ các nơi cung phủ ra, có lắm điều thô lỗ quê mùa không sao nói xiết. Thánh như Khổng Tử, từ cư xử, ăn uống, cử động, tới lui, việc nhỏ mọn ấy, học trò đều ghi chép để làm gương cho đời sau. Vì xem người, xem điều nhỏ mà có thể biết được điều lớn.
Nói riêng về một sự ở. Nhà cách trí có nói: Người đời sinh bệnh nhưng bệnh đó từ lỗ mũi mà vào; những nơi uế độc, nhân khí nặng nề mà chưng lên, lẫn trong không khí, theo gió bay ra khắp nơi, nếu người nào hớp vào phổi thì khí độc ấy theo mạch máu mà đạt vào phủ tạng và chi thể mà sinh ra bệnh tật, đến huyết trong thân người hư hỏng mà chết. Đó là lý rất đích xác. Xem mùa nắng nhiều người cảm bệnh mà nhiễm bệnh ôn dịch thì rõ.
Nay trong Kinh thành, con đường lục bộ cho đến đường các nhà thự chợ quán tường hào, vườn hoa và các bến sông chỗ nào cũng có uế khí, thậm chí có kẻ trước mặt công chúng mà đi tiểu đại không biết xấu hổ; các cầu dọc theo sông, không luận ngày đêm đàn ông, đàn bà cứ ra nơi ấy mà phóng uế, quen lấy làm thường. Người lo sửa mình đối với bóng đèn nệm gối, còn lấy làm hổ thẹn, xây lưng với người gọi là vô lễ, trần mình đối khách gọi là khinh mạn. Huống Kinh đô là nơi tôn nghiêm, trên các đường quan quân qua lại, sĩ thứ tới lui mà còn để có những chuyện “bất nhã” như trên sao? Ở phương Tây phàm những người nào bỏ rác làm nhơ đường đều bị phạt cả vì việc ấy bất nhã mà có mối hại chung. Ta cũng là người như họ, lại không biết xấu hổ sao?
Đến như gạch vỡ ngói hư, cây nhành khô lá rụng đổ rác và tro than các nhà loại ra người nước khác thu nhặt làm đồ vật hữu dụng, tăng tấn nguồn giàu nước… mà người mình thì vứt ra cùng đường, ném xuống ao vũng, hoặc đổ ra ngoài hào quanh thành, chất đầy cả bến sông, có nơi đến chất đống, người ta nhân đó có thể vượt hào sang bến được. Tôi từng thấy nhà người ta cứ mang đồ ra tới nơi lan can các hào cửa thành mà đổ xuống thường lắm.
Người Tây phàm đường sông quanh thành và thông vào thành, nếu như có người nào bỏ vật gì xuống thì bắt phạt là phòng lâu ngày đường sông ấy bị chất chứa mà thành cạn. Nay hào sông quanh thành ta nước cạn không lút đầu gối, hai cảng Đông Ba, Bạch Hổ cát bồi gần lấp bờ. Lúc đầu tiên đào những hào và sông ấy là đặt nơi hiểm yếu, mà nay gần như đất bằng là vì sao? Hiện dọc hai bờ hào quanh thành bờ đã có những nơi gần đổ sụp những vôi cát đã hủng hỉu, thấy người ta thường vịn theo nơi hang bờ đá, ở dưới hào mà leo lên bờ, dưới hào lại cỏ tốt, sen lên dễ ẩn núp được… Những điều đó đều phạm đến kiêng kỵ của nhà binh.
 QUAN THỰ
Dinh thự các quan, tường vách xiêu đổ; đến các quan giải, trống dưới dột trên, ngoài đường thì bùn lầy, vườn tược thì rác bẩn; trước sân quan nha thì cỏ mọc; trước cửa dinh quan nơi tụ ngõ mà đổ rác thành đống; ngoài hào thì nơi lồi nơi hủng, các nhà trong thành, hai bên đường gần nhà cứ quét dọn ra giữa đường như chia giới hạn vậy. Những đường bên vách tường đó, mùi hơi hôi thối, người đi qua phải che mũi đi mau… Cửa thành gọi là “quốc môn” lại gọi là “tượng khuyết” đời xưa phàm có truyền hiệu thì lệnh đều treo yết nơi cửa đô thành, người đi qua phải nghiêng lọng, xuống ngựa để tỏ lòng tôn kính, mà nay lại công nhiên làm nhơ  bẩn, như thế thì lòng tu ố ở đâu. Không phải là tiết mạn hay sao? Sao gọi là người nước biết giữ lễ nghĩa?
 NHƠ BẨN CÓ HẠI ĐƯỜNG VỆ SINH
Những mối tệ như trên không sao kể xiết. Phàm những khí uế độc đều ở xứ này mà theo luồng gió lại bay sang xứ khác; huống chi là ở trong một đô thành. Tuy có một vài quan thự dọn dẹp sắp đặt cũng sạch sẽ chỉnh đốn; song nước gáo không thể cứu được lửa xe, cả đời đều đục mà trong riêng một mình thành ra  nhiều người sinh bệnh, quân lính hay sinh lở chân… đã hại thân thể người và kém phần nhân đạo, như thế không cho là việc nhỏ được.
 VIỆC ĂN Ở
Các dinh quan như sáu bộ đường, bốn phía thềm ủm thủm, chỗ lủng, chỗ sứt, trông nó so le, xiêu quẹo như hình rắn đi. Trong nhà mò tối cửa vách đen ngòm, khói bay mờ mắt, giường chõng mục rệu, cánh cửa lung gãy, có lẽ giống nhà ông Nguyễn Hiến thời xưa (1). Đến đồ dùng trong nhà đều khí cụ thô vụng cũ rích đời nào, tưởng đâu các quan ta có tính ham đồ xưa. Ván kê sát đất không thông khí gió, trải qua ba mươi, bốn mươi năm loài rệp mối tụ họp thành ổ cắn người thành ghẻ, thán khí chất chứa không tan, cảm xúc là sinh bệnh. Thường nhà người trong buồng sâu phòng kín, không khí không thông, hễ một lần quét là thán khí bung ra, người vào đấy phải nhức đầu nghẹt mũi. Đó là thực chứng; huống rắn rết chuột muỗi dùng những nơi dưới hầm thắp buồng kín làm hang làm ổ truyền đời này sang đời kia, những đồ nhơ bẩn chung quanh đều dồn chứa vào đấy, cái khí độc thật không nói hết!
Tôi thường thấy quan viên ở dãy hai bên, và gia thuộc sai lính đi tìm thầy thuốc mà những quan và gia thuộc đó trông hình vóc ốm yếu như người ở trong rừng sâu, trọn ngày làm việc khó nhọc khí uất trí ngăn, thì làm sao cho mình được thanh sảng, chí khí được khoẻ khoắn mà làm việc cho tinh tường được?
Thầy Mạnh Tử nói: “Sự ở thay đổi được chí khí, sự nuôi thay đổi được thân thể”. Thật thế, người không có ăn mặc thì đạo vua tôi cũng dứt. Đó là điều đích xác và nhân đạo. Tôi thấy phần nhiều quan viên ăn uống sơ sài không bằng nhà trung sản trong dân gian. Họ thì trả lời rằng không phải không biết đồ tư dưỡng nên phong hậu, chỉ khổ không có tiền chu cấp nên phải thế… Chính dưới nhà bếp không mấy khi có thịt thừa, cơm thừa. Đó là mắt tôi từng thấy mà không khi nào quên. Như thế là cố làm cái giả dối để câu cái dạng sao?
Năm trước sứ bộ ta sang Tây, người Tây thấy sự ăn uống của sứ bộ quá đơn giản, họ nói: “ăn uống như thế mà có sức để bổ vào phần trí dũng thật không sao hiểu được”. Đến trước mặt người nước ngoài mà không dám dọn bữa ăn cho sang không rõ là ý gì? Tôi rất lấy làm đau lòng, nên không thể không nói, sợ làm trò cười cho người ngoài không phải là việc không quan hệ.
Bộ đường là nơi nguồn gốc chính trị, nền tảng cường thịnh trong nước, quan hệ đến phong hóa và quốc thể, nhân dân chiêm ngưỡng, người nước ngoài trông vào sự ăn như đã thuật trên không những không biểu thị khí tượng hùng tráng của nước nhà, mà ở trong không khí ẩm thấp thì người càng mê mỏi, tâm trí còn có lúc nào khoẻ khoắn mà làm việc gắng sức chịu nhọc với phận sự? Tôi ở nơi chái tây quan Hiệp biện đại thần mà sinh bệnh lười biếng mệt nhọc, không có việc gì mà còn thế, huống chi các đại nhân công việc nhiều thì sao?
Hiện nay có lệnh cấm “người nước ngoài không được vào trong thành” vẫn là theo thời thế. Song ngày sau cùng các nước giao thông mà bỏ lệ cấm trên, người nước ngoài vào thành bước chân vào các bộ đường mà so sánh với cách cư xử của họ thật không khác gì một trời một vực, nhục đến quốc thể biết bao! Mà đã nhục đến quốc thể tức là bày chỗ hèn yếu cho thế giới cùng nhìn thấy, không xem như là việc nhỏ được.
 KHOẢN TIÊU DÙNG CỦA QUAN VIÊN
Về các khoản ăn dùng chi tiêu của các quan viên không bằng sự tiêu dùng của một nhà khá giả trong dân gian. Tôi hỏi vì sao, thì họ trả lời: “ăn tiêu như thế mà người ta gọi là quá xa xỉ rồi đó”. Có viên hàm Hàn lâm trước tác, ra chợ mua một xâu cá một xấp thuốc, mang về tự nấu lấy, hỏi thì họ nói: “Không có tiền thuê đứa nấu bếp” (!).
Chức phận dầu nhỏ cũng là quan của Triều đình, mà khổ nhục đến thế, thì dân bảo thế nào? (Đoạn này kể nhiều đến điều mắt thấy vào thời ấy, như nhà quan chức lớn mà ăn uống thô hèn, công tử mà bận áo rách v.v… xin lược).
Thường thấy nhiều vị quan viên tiêu dùng một quan tiền như nhà buôn giàu xài một trăm quan…
Những cách hiểu đó, chính là con ma nghèo đeo đuổi trìu mến mà không rời vậy. Sao không làm văn mà trục nó đi? (Quan há bấy giờ không tiền mà lương ít thì lấy đâu mà xài? Tiên sinh chỉ nói đến hiện tượng mà không xét đến nguyên nhân, nên lúc ấy dư luận không phục).
Ở phương Tây một vị quan nhà nước, nếu làm không đúng cái thể quan, mà có đê hèn đôi chút đã bị cách chức vì đã làm vết xấu trên danh dự quan trọng. Cho đến hạng dân nghèo không được đi đến nơi đô hội phồn hoa đều là để tôn trọng quốc thể vậy.
Còn như quan ta, nếu bảo rằng che giấu sự giàu mà biểu thị cái nghèo ra, thì cũng vô lý hết sức. Vì ăn dùng như vậy có người làm quan trọn đời mà cũng như vậy. Lại có ông quan thăng trật cải lỵ mà dân dám dọn đường đòi nợ như đám dân nguyện lưu. Vậy để tiền làm gì? Giả dối đến thế là cùng. Phải chăng để dành tiền đặng dùng vào lúc mình chết? Tôi chính mắt thấy có ông quan già về hưu mà còn sống nhờ vay nợ, phải chăng để dành tiền bạc di chúc cho con cháu trả nợ cho mình được sạch tiếng chăng?
 SAO GỌI LÀ LIÊM?
Gọi rằng “liêm” vẫn tiếng tốt, song tại lương tâm mình chứ không phải dùng vật. Nay có người giữ theo tính riêng của mình khác với mọi người, như người xưa có anh say mê người con gái một mắt, xem người đời đều thừa một con mắt, mà cho là người đời không có người hoàn toàn; hay thấy người nào dùng một vật gì tốt mà xúm tay chỉ trỏ, làm cho người kia mang tiếng này nọ. Lấy cái tính quyến giới trái thường của mình mà đạc chừng sự tham mạo của kẻ khác xem người đời như ruồi hút máu, mà đem cái nết con trùn để buộc vào tính người (loài giun ăn đất) để so sánh chỗ mình khác người, đó há phải người bình tình nên làm sao?
Tôi thấy quan viên phương Tây gặp có vị quan nào cùng túng thì bạn đồng nghiệp, đồng liêu quyên giúp đặng mua đồ khí dụng tinh hoa, trần thiết cho có vẻ đẹp. Nhà nước đối với quan viên ngoài bổng lộc, lại có tiền phụ cấp, cho xứng với chức quan và thể diện quan. Vì một người có điều xấu hổ như lá đổ xuống nước nương rãnh và dạy quan học thói tham vậy.
Nhà nước vẫn cầu cho quan được giàu sang và ghét quan tham ô. Làm quan tham ô nhục đến thể diện, ăn của đút lót, hình luật có phạt. Song có bổng dưỡng liêm mà sau tránh phạt kẻ không liêm, mới mong tránh khỏi mối tệ nói trên. Nếu ngăn phòng sự tham ô mà lại ghét tanh kẻ giàu sang, nào có khác gì nhân nghẹn mà bỏ ăn?
Vậy, trừ việc “hiếp người trái phép mà lấy của” đáng bắt tội ra, ngoài ra, theo việc thông thường mà làm nên giàu không hại cho ai mà dân được nhờ, cũng lại là đáng khoan, lại giúp thêm việc thịnh lợi cho nước. Tức như thầy Mạnh Tử đã nói: “Trị người thì được người nuôi”.
Vả chăng tài hóa cần phải lưu thông, có tụ lại thì có tan ra, là lẽ tự nhiên, không lấy gì làm phương hại, Tiên Triết có nói: “Quan tham mà có phần trung hậu, hại dân chưa lắm. Quan liêm mà quá ư thâm khắc, dân chịu cái hại ngấm ngầm không ít, mà hao tốn đến quốc mạch”. Vì đã cần cho được tiếng “liêm” thì việc gì cũng thẳng tay, không chịu xét theo nhân tình. Đạo trời cũng thế, nên chỉ thi hành cái lệnh “túc sái” mùa thu, tội gì cũng tuyệt trừ đi, thì người và vật có lẽ đến ngày nay không còn.
Đời Đường, ông Hàn Dũ làm việc tể tướng, thấy có ai bới lông tìm vết, chỉ vạch điều lỗi của kẻ khác, ông bảo: “Trên đời, vua thánh như trời mùa xuân, sanh trưởng muôn vật; thứ tốt loài xấu đều bao dung cả. Sao lại tìm móc điều lỗi nhỏ của kẻ khác để giam cầm người ta giữa đời thịnh trị?”
Trương Tuấn, tôi đời Tống, một ngày nọ bắt được một đảng nguỵ chở ba mươi vạn quan tiền, muốn kết án tử hình. Triệu Khai xin lấy cái ấn “Tuyên vũ sứ” đóng lên trên số tiền ấy, kêu tội “kềnh” (chạm chữ vào trán) bắt bọn chúng làm công việc đúc tiền… chỉ xoay một cái đã được ba chục vạn tiền, lại thoát tội tử hình cho năm mươi người, đời sau khen Triệu Khai là tay “đại thủ đoạn kinh tế”.
Tào Tham, danh tướng đời Hán, uỷ thác cho người thay chức mình nói không nên làm rối chợ ngục. Quản Trọng, danh tướng nước Tề nói Bảo Thúc Nha không thể làm chính trị vì thấy người nào có lỗi thì trọn đời không quên (Không có độ lượng làm tướng quốc v.v…).
Trên, nói “liêm cũng có hại” là vì thế. Bằng như nói kẻ giàu sang lại tham ô, thì sao không trị tội một cách minh bạch công nhiên, mà chỉ lấy lời nói làm phòng hại người cùng cách bóc buộc ăn ở để phòng hại đến quốc thể?
(Bài này cốt châm mối tệ đời Tự Đức, nên cực lực bác cái đức “liêm” giả dối đó. Đời nay thì dầu người liêm giả dối cũng đỡ cho dân).
 KHÔNG DÙNG ĐỒ TỐT ĐẸP KHÔNG PHẢI LÀ LIÊM
Âu Tây thì khác thế: Không luận là quan hay dân, đều cần cho được giàu thịnh, vì quan dân trong nước mà có được nhiều cái tốt đẹp, đều có quan hệ với quốc gia Triều đình. Nghiệm ở Triều và ở thôn quê mà biết nhà vua tôn quý là thế nào. Vào một nhà nào mà thấy bọn đầy tớ ăn mặc chỉnh tề, thì biết chủ nhà là giàu sang; làm con cái mà lập được cơ nghiệp tốt đẹp, đó là lẽ đương nhiên. Nay ở nước ta lại cố ý làm cho thô vụng xấu xa và có tục ngăn cấm sự ham đồ tốt đẹp, như có nhà nào dùng một vài đồ ngoại quốc thì nghi là tư giao, ngấm ngầm kiếm cách để làm hại, cho đến người đời lấy sự “tốt đẹp” là kỵ huý. Từ quan đến dân, đua nhau làm những nghề tinh xảo ngày một tiêu mòn, dùng những đồ vụng rồi thể thống càng hèn, người giàu cũng như người nghèo, kẻ sang cũng như kẻ hèn, có cái thế đáng ham muốn mà không có sự đáng kính, không có cái vinh hoa phô với người. Văn vật ngày càng suy, áo xiêm càng xấu, không có vẻ tốt đẹp. Như nói lấy lễ mà tiết chế kẻo sợ người tập thói xa xỉ thì trên thế giới các nước đều lấy sự giàu mạnh mà khoe với nhau là ngu dại cả hay sao?
Trời sinh ra những vật tốt đẹp cho người sử dụng, mà nay lại ném bỏ đi, ấy là bạo khí của trời. Như thế thì việc thông thương mại, khuyên trăm thợ, không cần nói đến, giàu nước đủ dân cũng là sự đáng chê, lợi dụng hậu sinh, không có nghĩa gì, mà đặt ra trường học và xưởng công nghệ, cũng là việc không cần tả. Đồ khí dụng tốt đẹp, tạo ra mà không được dùng, lại kiêng sự dùng, khinh rẻ kẻ dùng, ai dùng lại bị chê cười nữa, thì dùng đồ tốt đẹp đó trở thành làm như kẻ hiền đạt, nhục đến thân danh, rước lấy điều ghen ghét lại bị dòm xét này nọ, thì có khác gì làm cái hầm trong nước cho người nước xỉa chân vào hay sao?
Thánh nhân đời xưa không quý chuộng vật lạ là những thứ vô ích vô dụng mà khêu lòng dâm đãng kia. Nay như cái đồng hồ, cây đèn cùng cả đồ tinh xảo thường dùng trong nhà, cần thiết với nhân sinh thì dùng lại càng tốt. Vậy mà tôi đã hỏi nhiều vị quan sao không mua đồ ấy mà dùng cho tiện lợi, thì thảy cả đều trả lời: “chết! chết!”. Không rõ có cái gì cảm hóa mà ngấm ngầm khiến cho người ta làm theo, như là luật hình nghiêm khắc đối với giặc bí mật.
Theo thông tánh loài người, ai cũng có tính ưa thích cái đẹp; nếu trái với cái tính ấy thì trăm việc không việc gì nên, mà trái với tính trời đã phú cho người. Duy dùng có tiết độ, vừa phải, ấy tức là lễ, chớ đâu phải buộc cả mỗi người đều trốn đời tu hành mới gọi là “liêm” hay sao? Liêm như ông Trần Trọng Tử ở Ô Lăng (không ăn của anh, ở riêng một mình) mà thấy Mạnh Tử mạt sát, Tề Oai Hậu cho là đem dân vào đường vô dụng mà đòi giết đi.
 TRỊ ĐỜI PHẢI XÉT TÍNH NGƯỜI
Thánh nhân trị thiên hạ, phàm việc gì bất cận nhân tình như kẻ trốn đời, tuy có kính trọng, mà không thể đem khuôn kiểu ấy ra dạy người đời. Sáng mắt như Lý Lâu, thấy cây kim trong buồng tối, nhưng cũng phải dùng thước, cân, lượng mà chuẩn, vì không lấy cái “sáng” đó mà buộc cho người thường được.
Vua Hoàn Công nước Tề háo sắc, mà Quản Trọng cho là không hại gì nghiệp bá. Vua Tuyên Vương nước Tề háo hóa mà thầy Mạnh cho là nên suy ra thành vương chánh… Từ xưa những vị vua anh hùng khai cơ dựng nghiệp, đều lấy sự “bảo trợ giàu sang, chung cùng lợi lộc” thề với những truy tuỳ với mình. Nếu mỗi người đều thành như Bá Di, tín như Hiếu Kỷ thì cùng ai mà tóm thâu thiên hạ làm nên nghiệp vương được? Và như các vị công thần, bỏ nhà cửa, lìa bà con, trông ngày sau được phong tước hưởng lộc đó, đều cho là hạng người bất trung và tham tâm cả sao? Như chỉ hứa bằng miệng suông mà không có thực lợi giàu sang đi theo sau thì mục “cửu kinh” trong sách Trung dung, có hai chữ “trọng lộc” cũng nên cạo bỏ đi cả.
Phải biết hai chữ “danh lợi” cùng đi đôi với nhau. Nay đã gánh phần lo cho thiên hạ mà không được hưởng niềm vui trong thiên hạ, thì ai còn khổ gì mà phải làm quan? Xưa vợ Trần Trọng Tử can chồng nếu chịu lãnh tước lộc thì phải gánh việc nước, e có điều nguy đến tánh mạng…, người đời cho là hiền, vì trọng tính mạng mà xem nhẹ tước lộc. Nay đã bắt lo toan việc nước là việc nặng mà lại không được hưởng cái nhẹ kia, thì làm sao mà bảo trọng được?
Đời xưa vua đãi với tôi, như vua Nghiêu sắm đủ kho đụn để phụng vua Thuấn, vua Chiêu Công định phong Thơ xã cho Khổng Tử, có phải là đem cái mồi giàu sang mà dụ người đâu?… (lược) Đã là quốc gia phàm việc gì cũng gốc theo nhân tình và không tính trời phú cho người, dầu thánh hiền cũng không khỏi. Nay lại mất cả người trong thiên hạ mà làm cùng khốn quê hèn, không phải là trái với tính người sao? Như vậy thì trông mong cho nhà nước giàu mạnh thịnh lợi để dùng làm việc gì mà lo toan cho mệt nhọc?
 VẬT CHẤT CÓ QUAN HỆ VỚI TINH THẦN
Người xưa đến một nước nào, vào trong nước mà trông thấy đô thành tráng lệ, lâu đài phố xá chỉnh tề sạch sẽ, đô thị có ngăn nắp, nhà cửa có hàng ngũ, đồ mặc đồ dùng có vẻ chỉnh sức, không khí trong sạch… thì biết là nước ấy có cái cảnh tượng hùng thịnh tấn tới, trái lại nếu trông thấy nhân vật quê mùa hèn hạ, phong cảnh u sầu, ăn ở tệ lậu, trông phong sắc có dạng buồn rầu cực khổ thì tương lai của cái vận nước ấy không đợi nói mà ai cũng hiểu được; điều quan hệ đó, đâu phải là việc quan hệ nhỏ (thuyết này rất đúng, không rõ triều Tự Đức có quan cảm thế nào?).
Nói riêng ở chỗ Kinh thành đây, cái ao trong ngoài thành để cỏ mọc um tùm, chung quanh thì làm nơi chứa những rác rến dơ bẩn chất thành từng đống, có nhiều hơi độc. Nhà cách trí có nói: Phàm những nơi ẩm thấp đồ dơ bẩn của người và vật, chấm ngấm trong bùn đất, đến mùa nắng khí độc xông lên, ngừơi ta gặp phải sinh tật bệnh cảm nhiễm đến chết. Xem hôm nào trời động trên mặt nước có cái sắc khác với ngày thường, đó là chứng thực rõ ràng. Bằng như nói sợ động đất không nên đụng chạm đến các ao đó, thì trước kia đào những ao đó làm gì? Mà đã vô dụng thì lắp bằng đi, sao lại để cao không cao, thấp không thấp, ao không phải ao, ruộng không thành ruộng, làm những khoảng đất trống vô dụng làm mối hại lâu dài ngấm ngầm cho người đời? Nay như nhận những cái cũ sẵn có đó mà chỉnh đốn cho thành mới, nuôi cá phải phép thì mỗi ao trong một năm có thể lợi được hai ba ngàn quan tiền, lại được những điều ích hơn là phong cảnh vui đẹp, có lợi dùng nước để tưới vào hoa quả và tuyệt khí độc sinh bệnh hoạn. Như thế vì cớ gì mà không làm được?
Tôi lại thấy các nước trên thế giới, phàm những dấu tích của các vị đế vương đời trước còn lưu lại, bất kỳ thứ gì có mồ hôi tay và miệng của tiên triều, không luận cái lớn hay nhỏ, đều bảo tồn một cách rất cẩn thận, cho đến lâu đài quan phủ cũ đều chăm sóc chỉnh đốn cho mới thêm, khiến cho người sau trông thấy huân nghiệp hùng vĩ, biết là cội gốc sâu xa mà sinh lòng yêu mến sùng bái cũng lâu dài. Điều quan hệ không phải nhỏ, chỉ xét về mặt trái thì biết. Song đó là điều kỵ huý không dám nói rõ.
 ĐI XE VÀ ĐI GIẦY
Xa chính (trong nước dùng xe để đi và vận tải) có lẽ nước ta bỏ đã lâu mà không tu chỉnh lại. Trên thế giới từ nước hạng nhất đến nước hạng ba không nước nào không lấy xa chính làm việc trọng đại, vì giúp cho sức người rất nhiều công việc. Xưa nay trên sử sách nói về xa chính đều có minh chứng không đợi nói nhiều.
Trời sinh vật để giúp cho người dùng và thay sự khó nhọc cho người nữa, dùng trâu ngựa kéo xe chở đồ nặng, trên đời thường dùng ít mà thu công nhiều. Nếu dùng sức một, hai người mà mang gánh không phải phụ cái ý “trời sinh vật cho người dùng” hay sao? Đến xe cộ dùng vào việc binh, công dụng rất lớn, không nói hết được. Đã có xa chánh (có xe phải nuôi ngựa), mà nghề mục súc cần phải mở mang, không phải là việc lớn trong quốc chính sao?
Tôi thấy những người phu kéo xe và đẩy xe chở vật hạng trên đường cái quan, nếu có người nào quá nhọc mệt mà ngồi lên trên xe thì kẻ hạch hỏi và bắt phạt tội, không rõ có điều nghiêm cấm ấy không mà họ làm như thế? Nếu như nhận thứ xe làm đồ phẩm dụng quan dụng thì phân biệt bằng quy chế để chỉ rõ từng đẳng cấp (xe quan dùng, xe dân dùng, có dấu hiệu v.v…) không tiện sao? Sao lại không chỉ rõ đẳng cấp, mà cứ để mù mờ để hẳn một việc dùng lớn trong nước? (trong dân không có xe). Có tiện lợi cho việc dùng mà sau dân được phong hậu, tức là ích cho nước. Các nước thế giới đều nhận việc xe cộ vận tải làm mối lợi giàu mạnh trong nước, quan hệ cả công tư, không phải là việc nhỏ. Việc dùng thế nào không đợi nói nhiều.
Thứ giày là việc hèn không đáng nói. Người sở dĩ khác với loài vật là biết ăn thịt nó, dùng da nó để giữ thân mình cho tròn vẹn, cha mẹ sinh thế nào thì bảo tồn thế ấy, không làm hại đến có vết tích, ấy gọi là hiếu. Nay người mình đem cái chân cha mẹ sinh thành mà không từ gai góc, không tránh sạn sỏi, nhơ bẩn và trúng độc, cứ đạp bừa mà đi. Vì thế người mình thường sinh bệnh lở chân, lở cẳng (ghẻ chùm bao và dạn v.v…) nhiều hơn nước ngoài.
Trời sinh loài thú ban cho nào nanh, nào móng, lại có da dày rất bền, gai không đâm thủng được. Nên loài vật không cần đi giày cũng có đồ tự vệ. Đến loài người da chân rất mỏng, có cái gì chạm là lủng, đã không có da dày như loài thú để giữ cái chân, lại không dám mang giày, người không giống người, vật không giống vật, không phải một điều khổ sao?
Các nước thế giới không nước nào dùng thứ giày làm vật phẩm quan dụng (quan dân có tiền thì sắm mà mang), vì nó là vật hèn. Như nước ta nhận lầm là vật phẩm dụng (dùng để phân biệt với người có quan phẩm) thì trên đôi giầy mang một dấu hoa hay vẽ gì đó để phân biệt quan dân cũng được, cần chi phải cấm thứ “giày” hèn đó, khiến cho dân gian không ai dám đi giầy để cho người ngoài cười mình là dân dã man? Chưa nói người mình cần giầy thì thêm được một nghề cho người có việc làm, đó là điều ích. Chứ như không mang giầy mà chân bị thương thì toàn thân đều không dung. Người xưa lúc ra trận bị đâm nhằm vật nhọn, bị té ngã mà toàn quân bị thua, chứng rằng “giày”, vật tuy hèn mà công dùng rất lớn vậy.
(Dân gian đi giày không có minh văn lệnh cấm đời nào. Song xem đời Nguyễn Trường Tộ tiên sinh thì đời Tự Đức có lẽ theo tục lệ, quan thấy dân đi giày thì quở phạt. Hiện nay một vài nơi phủ huyện học trò và dân đi giày, guốc có nơi bị quở trách, thì tục lễ vẫn chưa dứt hẳn. Một điều lạ là phương Đông như nước tàu mà mắng người thường dùng tiếng “lão không giầy” (Vô lũ chi lão). Còn người Nhật toàn đi guốc cả nên có tiếng là nước guốc gỗ. Duy có nước ta dân gian không đi giầy, đến ngày nay dân quê còn thế, đó là cái chứng nghèo chăng?)
Trời sinh loài người khiến biết bao các vật dụng để phân biệt với loài vật, để toàn đạo làm người, là vì lẽ gì? Nói nhường riêng một thứ giàu đó để quan dùng cho trọng sự tôn kính, thì giày ở dưới chân vẫn là đồ khinh, còn áo mặc mới là trọng, sao không cấm thứ trọng để quan được mặc áo, hưởng sự quan trọng đó? Mà bắt dân gian làm “nước ở trần trụi” không được mặc áo, không cần trồng dâu để nuôi tằm, không dễ dàng hơn sao?
Thánh nhân chế lễ, gồm cả việc nghi văn để  bày tỏ là có lễ có văn mới gọi là lễ; nếu như trần vai truồng mình thì gọi là khinh mạn. Nay ở trường ca xướng hát bội thì bọn hát được đội mũ đi giày, thì ra lấy trường hát bội làm trọng, mà khinh rẻ nhà công đường sao? Tôi không rõ từ đâu mà sinh ra cái tục đó, rất trái với bản ý lễ của thánh nhân.

MỘT VÀI TỤC XẤU CỦA PHỤ NỮ
Đến như phụ nữ ta, lại có lắm điều vô lễ; tôi thấy trên thế giới người đàn bà đã 50 tuổi mà không khi nào lộ nửa thân thể ở trần bao giờ. Tuy dân Mã Lai là dân bậc chót, đàn ông nửa mình trên đều ở trần, mà con gái thì bận kín. Đến người nước Tiểu Tây (Thổ Nhĩ Kỳ) thì con gái, đàn bà chỉ để lộ hai con mắt, mặt mũi đều che kín cả. Người ta làm thế là để phòng nhàn sự phi lễ.
Nay đàn bà xứ ta, thường thấy nửa thân trên ở trần (ở Kinh thành cũng có thế) mà trước mặt công chúng đông người xắn quần đến trên đầu gối, như đàn ông bận khố, trông như vị hòa thượng không mang một sợi tơ… Đời xưa nói “mẹ chín con” nay hẳn thấy thế, quê xấu biết bao! Sao không biết hổ đến thế. (Đoạn này nói ở trần đi tắm và giỡn cợt nhau.. Xin lược).
 CHỬI RỦA
Đến trong ngôn ngữ giao tế với nhau lại lắm điều không thể đặt tên được:
Nước ta những nơi thành phố chợ búa không luận đàn bà trẻ con ngu dốt không biết gì đến người có học có biết chữ mà quở miệng là nói tiếng mắng chửi và lời thô bỉ nói luôn đầu môi. Tập thành thói quen, những tiếng “mắng cha chửi mẹ” cùng tục tĩu, người nghe đến nhơ cả lỗ tai mà tự người nói lại lấy làm khoái, cho đến dạy câu mắng, học bài chửi, đọc ra có cung, có điều, nếu như người nào mắng chửi cả ngày mà không trùng lặp, thì người ta xẽ như Tô Tần, Trương Nghi trong khoa mắng chửi, chiếm giải quán quân vì miệng chửi như nước chảy không khi nào cạn vậy.
Đến lúc diễn ra cái bộ dạng mắng chửi, tiếng như mõ rao, chân như múa hát, lên tay, xuống ngón, mặt như sơn đổ, tóc như tơ vò, nước miếng như bọt giải, tay cầm đất lia, chân đi cà xiểng không khác gì người điên… Những thói xấu đó thất là ba phần giống người bảy phần giống ma quỷ. Trước đây lúc người Tây mới đến Gia Định (Nam kỳ) một lấn thấy hai người Nam đang mắng chửi nhau, lên tay xuống ngón, múa men v.v… họ xúm lại xem cho người Nam làm trò. Sau họ biết rõ hễ thấy đám mắng chửi nhau, thì dùng “ba toong” giải tán ngay.
Lại còn một điều xấu nữa, hễ có điều bất bình với ai thì phát thệ và nguyện rủa chúc dữ rất nặng. Thường ngày cùng giao du với nhau mà đến ghét bỏ nhau, chất chứa điều bất bình lâu thì khi yêu nhân đó mà sinh ra. Như cho là vô hại thì trong luật có điều “cấm nguyền rủa” làm già? Đời Hán, Giả Nghị lấy gương nhà Tần làm răn, không phải là vô cớ.  Vì đối với đồng bạn mà nguyên rủa thì minh bạch, thì đối với người trên, há không nguyền rủa âm thầm hay sao.
(Có dẫn vài chuyện “rủa” làm chứng, xin lược)
“Không nến nói điều phi lễ” thánh nhân có dạy: “Mắng chửi bị án xuy mười roi”, luật có điều ấy rõ ràng. Nay thói ấy đầy cả thành thị mà cứ để như vậy thì còn dùng sách và vật làm gì? Việc nhỏ như thế mà không làm lấy lễ phép chỉnh đề sửa đổi lại, huống chi việc lơn. Ngoài ra như “đầy miệng điều láo, một ngày bán được ba gánh giả, đến đâu cũng dối, ba ngày không mua được một điều thiệt”. Thật là không còn chút lễ nghĩa liêm sỉ nào. Cái phong tục khiêu bạc đến thế là cùng? Thế giới chưa có nước nào như xứ mình. Phép nước mà không làm cho người nước đổi ngoài mặt thì còn nói đến chuyện hóa thành tục mỹ được?
Trên mấy khoản là tựa chỗ gần mà thường thấy, nên chỉ trật tự như thế mà không nói đến phương cải cách. Vì việc cải cách đó rất dễ…
 Chú thích
 (*) Bản dịch của X.T.T đăng trong TIẾNG ĐÀN từ tháng 1-1940. Không thấy bản Hán văn ở đâu cả.
 (1) Nguyễn Hiến: Bậc cao đệ của Khổng Tử có cảnh nhà trên dột, duới thì ướt.

27 tháng 12, 2011

ĐÔ ĐỐC JAURÉGUIBERRY VÀ SỰ CHEN LẤN CỦA PHÁP ĐỂ GIÀNH GIẬT BẮC KỲ, 1879 - 1883

                                                                 Kim Munholland
Sự quá vãng của các khảo hướng tập trung vào Âu Châu (Eurocentric) của chủ nghĩa đế quốc đã được ăn mừng một cách rộng rãi bởi các sử gia trong hai mươi lăm năm vừa qua.  Bắt đầu với các nỗ lực của Robinson và Gallagher để vượt thoát các mệnh lệnh của chủ nghĩa đế quốc kinh tế, các học giả đã lập luận rằng sự bành trướng của Âu Châu cuối thế kỷ thứ mười chín phát sinh từ một chuỗi các cuộc khủng hoảng tại vùng “ngoại vi” của quyền lợi của Âu Châu tại Á và Phi Châu và rằng các cuộc khủng hoảng này đã lôi kéo các chính khách Âu Châu vào các cuộc chen lấn để giành giựt đất đai hay các khu vực ảnh hưởng nhằm thay thế cho chủ nghĩa đế quốc “không chính thức” của thời đại trước đó. 1  Đã không có sự thay đổi trong chính sách đế quốc, theo sự giải thích này, chỉ có một sự thay đổi trong phương pháp gây ra bởi các sự phát triển không dự liệu được tại thế giới phi-Âu Châu.  Bởi việc bắt buộc các sử gia Âu Châu phải cứu xét đến các sự tuyên xác của lịch sử Phi Châu hay Á Châu, khuynh hướng này trong số các sử gia về chủ nghĩa đế quốc đã có một hiệu ứng lành mạnh và toàn cầu trong việc đặt sự bành trướng của Âu Châu vào trong khuôn khổ lịch sử thế giới, hơn là vào lịch sử hạn hẹp của Âu Châu không thôi.
       Song, sau khi sự tín nhiệm đã được trao cho các biến cố xảy ra bên ngoài sự kiểm soát của các văn phòng thủ tướng Âu Châu, các sự miễn giảm được dành cho các hành động độc lập của các binh sĩ và đại diện Âu Châu, và sự thừa nhận được dành cho sự phát triển độc lập của các xã hội phi-Âu Châu, vẫn còn một sự ngờ vực giằn vặt rằng những gì diễn ra tại Paris hay London đã có một số tàm quan trọng nào đó trong việc phóng ra sự chen lấn của Âu Châu để giành giụt các lãnh thổ hải ngoại vào cuối thế kỷ thứ mười chín, ngay dù các chính sách ít là kết quả của sự tính toán cho bằng sự ứng xử. 2  Gần đây hơn, các sử gia đã khơi dậy các sự thay đổi trong các tư tưởng “chính thức” hay ngay cả “không chính thức” của chủ nghĩa đế quốc tại Pháp hay Đại Anh Cát Lợi nhằm giải thích sự sẵn lòng của các chính phủ này để đầu tư vào các cuộc phiêu lưu hải ngoại. 3  Các quyết định chung cuộc cho sự can thiệp vẫn được đưa ra, hay ít nhất được phê chuẩn, tại Paris và London.  Trang bị với sự cẩn trọng chống lại việc giả định rằng một nguyên cảo riêng biệt của Âu Châu đã định hình một kỷ nguyên của chủ nghĩa đế quốc, giờ đây có thể quay trở về từ vùng ngoại vi đến các trung tâm Âu Châu và tái khảo sát các trường hợp nghiên cứu điển hình về cung cách theo đó các chính khách Âu Châu đã đáp ứng với các thực tế đang thay đổi tại các biên cương hải ngoại và đã quyết định về sự can thiệp.  Một trường hợp như thế là sự phát triển của chính sách của Pháp đối với Bắc Kỳ giữa các năm 1879 và 1883, một thời khoảng khi Đô Đốc Jauréguiberry đóng một vai trò quan yếu trong việc giao kết chính phủ Pháp vào tốn phí và các sự may rủi của cuộc chinh phục thuộc địa.
       Để đặt vai trò của Jauréguiberry vào phối cảnh, điều cần phải ghi nhận rằng sự chen lấn giành giựt Bắc Kỳ xảy ra trước khi Jules Ferry thành lập chính phủ lần thứ nhì của ông ta hồi đầu mùa xuân 1883.  Mặc dù các sử gia thường xác định Ferry như kẻ xúi dục cho sự bành trướng của Pháp vào Bắc Kỳ, ông ta đúng ra là một kẻ thừa kế hơn là tác giả của chính sách của Pháp. 4  Cuộc chiến tranh không tuyên chiến của Ferry với Pháp về Bắc Kỳ có các cội rễ của nó trong các đề xuất giữa các năm 1879 đến 1883 khi Jauréguiberry tại bộ hải quân trở thành kẻ biện hộ hàng đầu cho sự bành trướng trong chính phủ Pháp.  Còn hơn cả các đại diện Pháp tại chỗ, Jauréguiberry đã cung cấp một tiếng nói mạnh mẽ nhất tán thành sự can thiệp quân sự tích cực tại Bắc Kỳ.  Mặc dù sự chú ý nhiều hơn được dành cho vai trò của Jauréguiberry trong “sự chen lấn giành giựt” của Pháp tại vùng Tây Phi Châu, một khuôn mẫu tương tự cũng được nhận thấy trong trường hợp Bắc Kỳ. 5  
       Giống y như ở Senegal, Đệ Tam Cộng Hòa thừa kế một di sản thuộc địa từ Đệ Nhị Đế Chính (Second Empire) tại Việt Nam.  Dưới thời Napoléon III, hải quân Pháp đã thiết lập một thuộc địa tại Nam Kỳ (Cochinchina) và cưỡng đặt một chế độ bảo hộ lên vương quốc Căm Bốt, chính vì thế đánh dấu một sự hiện diện chính thức của Pháp trên bán đảo Đông Dương sau gần hai thế kỷ quan tâm rất rời rạc vào khu vực.  Một khi đã được thiết lập tại Sàigòn, các đô đốc Pháp đã hướng sự chú ý của họ đến Bắc Kỳ, nhưng chiến tranh Pháp-Phổ (Franco-Prusdoan Ear) đã làm gián đoạn các kế hoạch bành trướng tại miền bắc.  Các tin tức về các sự thất trận của Pháp tại Âu Châu đã khơi dậy dư luận trong một thời gian ngắn, rằng quân sĩ Pháp có thể triệt thoái ra khỏi các trạm đóng quân của họ tại Á Châu. 6  Các hy vọng như thế chỉ là hão huyền.  Thay vào đó, bị thúc dục bởi viên thống đốc chủ trương bành trướng tại Nam Kỳ, Đô Đốc Dupré, chính phủ Pháp đã thực hiện một nỗ lực bị chết yểu để chiếm đoạt Bắc Kỳ trong năm 1873.  Một cuộc cãi cọ giữa một thương gia và kẻ buôn súng gốc Pháp, Jean Dupuis, với các viên chức Việt Nam tại Hà Nội đã cung cấp cho Dupré một duyên cớ để can thiệp.  Đầu Tháng Mười Một, Dupré phái một toán viễn chinh nhỏ ra Hà Nội dưới sự chỉ huy của Francis Garnier, và viên chỉ huy Pháp đã chiếm giữ một số thành trì then chốt tại châu thổ sông Hồng, kể cả thành Hà Nội.  Nhưng sự thành công mau lẹ của Garnier dẫn anh ta đến việc ước lượng thấp sức mạnh của cuộc kháng chiến chống Pháp tại Bắc Kỳ. 7  Khi anh ta nhận được tin tức rằng một lực lượng khá lớn Quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc xuất hiện bên ngoài các cổng thành phố, Garnier hấp tấp dẫn một toán quân nhỏ đánh đuổi Quân Cờ Đen, để rồi bị giết trong vụ giao tranh lẻ tẻ.  Các tin tức về sự từ trần của Garnier đưa đên một phản ứng sâu xa tại Paris khi chính phủ ra lệnh cho Dupré phải ký kết một hiệp ước một cách mau chóng trên các điều kiện thuân lợi khả hữu nhất. 8
       Bất kể sự thất bại về quân sự và sự triệu hồi sau đó Đô Đốc Dupré, chính phủ Pháp đã giành được các sự nhượng bộ quan trọng trong bản hiệp ước mà vua Tự Đức đã ký kết với Pháp trong năm 1974.  Nhà vua Việt Nam đã thừa nhận sự chiếm hữu của Pháp tất cả sáu tỉnh tại Nam Kỳ, và chính phủ Pháp giành được quyền trú đóng các đại diện lãnh sự và các đội quân biệt phái nhỏ tại Hà Nội, Hải Phòng, và Nam Quon [Quy Nhon?].  Hải quân Pháp có thể phái các tàu vũ trang vào các con sông ở Bắc Kỳ để bảo vệ thương mại, được mở ngỏ cho các nhà mậu dịch Pháp và Âu Châu.  Song một chế độ bảo hộ của Pháp chưa được nới rộng ra Bắc Kỳ, mặc dù các viên chức Pháp sau này có lập luận rằng các sự thỏa thuận năm 1874 đã tạo lập một vị thế đặc biệt cho Pháp tại Bắc Kỳ và cũng tuyên bố rằng bất kỳ mối quan hệ triều cống nào giữa Việt Nam và Trung Hoa đều đã bị phế bỏ.
       Sư mơ hồ trong các quan hệ của Pháp với Việt Nam về vấn đề Bắc Kỳ đã khơi dậy một cuộc tranh luận giữa các viên chức Pháp sau năm 1874.  Người thay thế Đô Đốc Dupré làm thống đốc Nam Kỳ, Đô Đốc Duperré, hoàn toàn lãnh đạm về các lợi nhuận thương mại sẽ giành đoạt được tại Bắc Kỳ, và ông đề nghị sự triệt thoái các lực lượng Pháp để làm an tâm các nhà chức trách Việt Nam rằng Pháp không mong muốn một sự bảo hộ hay một cuộc chinh phục. 9  Chính quyền và dân chúng Việt Nam thù nghịch người Pháp, ông Duperré nhận định, và sẽ luôn luôn gây ra các sự khó khăn cho các đại diện Pháp tại Huế hay Bắc Kỳ.  Bởi vì thương mại Âu Châu tại miền bắc ở trên một quy mô nhỏ và bị giới hạn ở Hà Nội và Hải Phòng, Duperré phán đoán rằng triển vọng kinh tế của Bắc Kỳ đã không biện minh được cho các tốn phí của một sự chiếm đóng quân sự.  Các nhóm Việt Nam không chính thức, chẳng hạn như Quân Cờ Đen, hay các binh sĩ Trung Hoa chính quy chiếm đóng các khu vực trong nội địa nơi tài nguyên khoáng sản của Bắc Kỳ được cho là tọa lạc, và thương mại trên sông Hồng thì bất trắc đến nỗi an ninh cho hoạt động mậu dịch “sẽ đòi hỏi sự can thiệp tức thời để bình định các tỉnh này” trên một quy mô rộng lớn. 10  Duperré giả định rằng một sự cam kết như thế vượt quá các tài nguyên của chính phủ.
       Dù thế, chính phủ Pháp đã không có ý định triệt thoái ra khỏi Bắc Kỳ và dự trù sau rốt sẽ tìm kiếm một sự bảo hộ trọn vẹn, nhưng tạm thời Paris ưa thích duy trì nguyên trạng (status quo) hơn là bất kỳ sự phiêu lưu nào khác nữa tại Á Châu.  Tình hình chính trị tại Âu Châu, kể cả sự căng thẳng kinh tế của việc thỏa mãn khoản bồi thường chiến phí cho Đức, buộc phải thận trọng. 11 Trong năm 1877 Quận Công (Duc) Decazes, Bộ Trưởng Ngoại Giao khi đó, đã lo sợ rằng một chế độ bảo hộ được công bố công khai sẽ tạo sự phản kháng của các cường quốc khác và khiêu khích chính phủ Trung Hoa, nước mà ông thú nhận, hãy còn giữ một sự chú ý đến Việt Nam. 12  Song sự triệt thoái bị bác bỏ bởi đây sẽ bị giải thích như một dấu hiệu của sự yếu kém của Pháp tại Á Châu, làm tổn hại uy tín của Pháp, và sẽ bị khai thác bởi các đối thủ của Pháp tại triều đình Việt Nam.  Chính vì thế, chính sách của Pháp đối với Bắc Kỳ sau năm 1874 có tính chất thụ động và nhẫn nhục, ít nhất trong tạm thời, để chấp nhận một sự dàn xếp ít thỏa đáng hơn.
       Nguyên trạng đã bị đảo lộn vào cuối năm 1878 khi Li Yang-ts’ai [Lý Dương Tài?], một cựu tướng lĩnh của quân đội Trung Hoa, dẫn đầu một nhóm binh sĩ Trung Hoa nổi loạn tiến vào Bắc Kỳ.  Li Yang-ts’ai tự mạo xưng là một hậu duệ của triều đại nhà Lê đã bị mất ngôi ở Việt Nam, và nhân danh giòng họ nhà Lê ông ta trương ngọn cờ khởi nghĩa chống lại hoàng triều ở Huế.  Lãnh sự Pháp tại Hải Phòng đã báo cáo một cách khích động rằng toàn thể khu vực đang trên bờ một cuộc nổi dậy toàn diện. 13  Các báo cáo sơ khởi từ Bắc Kỳ dẫn dắt bộ hải quân đến việc kết luận rằng một cơ hội đã hiện diện để chấm dứt tình trạng mơ hồ của Pháp tại miền bắc xáo trộn.  Nếu chính phủ Việt Nam yêu cầu sự trợ giúp của Pháp để trấn áp cuộc nổi dậy, Đô Đốc Pothuau lập luận, giá phải trả sẽ là sự bảo hộ của Pháp. 14  Trong bất kỳ trường hợp nào, sự xâm nhập của họ Li đã dồn một cuộc khủng hoảng tại vùng ngoại vi của đế quốc Pháp sau hết đến sự can thiệp quân sự của Pháp, mặc dù không phải theo một cung cách mà Đô Đốc Pothuau đã kỳ vọng.
       Sự yêu cầu từ Huế về sự trợ giúp của Pháp không bao giờ đến Sàigòn hay Paris.  Thay vào đó, chính phủ Việt Nam đã cầu cứu Trung Hoa về sự trợ giúp quân sự để trục xuất viên phản tướng này.  Lời thỉnh cầu này buộc các viên chức Pháp phải nhận ra rằng bản hiệp ước 1874 đã không chấm dứt mối quan hệ triều cống cổ truyền giữa Trung Hoa và Việt Nam.  Bất kể các sự tuyên xác của Pháp rằng hiệp ước 1874 đã thiết lập “sự độc lập” của Việt Nam ra khỏi bất kỳ cường lực nào khác, chính phủ Pháp đã không phản đối khi vua Tự Đức đã gửi phái bộ triều cống ba năm một lần, theo thông lệ sang Trung Hoa vào năm 1877.  Các viên chức Pháp đã liếc xem cử chỉ này như một nghi thức ‘không có tính cách vi phạm” và từ chối không nhìn nhận tầm quan trọng của nó trong các quan hệ Việt Nam – Trung Hoa.15  Tuy nhiên, sự triều cống này nhiều hơn một nghi thức, và giờ đây Việt Nam khẩn cầu Trung Hoa đảm nhận các trách nhiệm như một quyền lực bá chủ.  Rõ ràng, vua Tự Đức hy vọng sử dụng mối liên hệ của mình với Bắc Kinh để vượt thoát khỏi sự giám hộ của Pháp.  Và chính phủ Pháp thừa nhận, bất kể hiệp ước 1874, rằng sự chú ý của Trung Hoa tại Việt Nam vẫn còn tích cực.  Một năm trước đó, Decazes đã ghi nhận rằng trong khi chính phủ Trung Hoa có vẻ ít quan tâm đến các hoạt động của Pháp tại Nam Kỳ hay Căm Bốt, một sự hiện diện của Pháp tại Bắc Kỳ đe dọa trực tiếp vùng biên cương phía nam của Trung Hoa. 16
       Chính quyền Trung Hoa đã đáp ứng tức thời trước lời yêu cầu của Việt Nam.  Tổng Đốc Lưỡng Quảng (Quảng Tây và Quảng Đông) đã ra lệnh cho các lực lượng vũ trang Trung Hoa chính quy tiền vào diễn trường, và họ đã mau chóng vượt qua biên giới để truy kích Li Yang-ts’ai.  Sự can thiệp của Trung Hoa vừa tức thời vừa hữu hiệu.  Cuộc “nổi loạn” của Li Yang-ts’ai được chứng tỏ là yểu tử, bởi dân chúng Bắc Kỳ vẫn thờ ơ trước lời kêu gọi của ông ta cho một cuộc khởi nghĩa.  Được trợ giúp bởi Quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, đội quân Trung Hoa chính quy của Tướng Feng Tzu-ts’ai [Phùng Tú Tài?] đã đánh duổi họ Li và các đồ đảng của ông ta trong Tháng Một.  Họ Li và một đám nhỏ các đồng minh trung thành chạy vào vùng nội địa của Bắc Kỳ nơi họ tiếp tục bị truy kích bởi các lực lượng Trung Hoa chính quy.  Vào cuối năm, Tướng Feng đã bắt được họ Li, kẻ mau chóng bị hành quyết, và Tướng Feng đã cho bêu chiếc đầu bị cắt của viên tướng nổi loạn khắp các làng xã tại Bắc Kỳ như bằng chứng ghê gớm về khả năng của Trung Hoa để đáp ứng lời khẩn cầu của một nước chư hầu.  Hành động của Tướng Feng và sự hiện diện tiếp tục của bộ đội Trung Hoa tại Bắc Kỳ không chỉ tái xác nhận mối ràng buộc giữa Việt Nam và Trung Hoa mà còn làm phát lộ ra sự yếu kém của Pháp.  Pháp có gửi các toán tăng viện ra Hà Nội trong suốt cuộc khủng hoảng, nhưng họ đứng yên chứng kiến sự đàn áp thành công của Trung Hoa đối với cuộc nổi loạn của Li Yang-ts’ai.  Các lãnh sự Pháp tại Hải Phòng và Hà Nội than phiền rằng các viên chức Việt Nam đã không thông báo với họ về sự hợp tác hiện hữu giữa đội quân Trung Hoa và các lực lượng Việt Nam. 17
       Người Pháp đã hay biết đầy đủ về ý nghĩa của sự can thiệp của Trung Hoa theo lời yêu cầu của vua Tự Đức.  Như đại diện Pháp tại Huế đã nhận xét, “Việt Nam đã từng là một nước chư hầu trong một thời gian lâu dài của Trung Hoa, “người chị lớn” của họ, và chưa bao giờ không xem cô ta như vị bá chủ của mình”. 18  Hơn nữa, vua Tự Đức có chủ định rõ rằng rằng việc phô diễn sự ủng hộ này của Trung Hoa sẽ được dùng để chống lại Pháp.  Được khuyến khích bởi sự ủng hộ tích cực của Trung Hoa tại miền bắc, vua Tự Đức đã yêu cầu chính phủ Pháp triệt thoái thủy quân lục chiến của họ khỏi các hải cảng theo hiệp ước tại Bắc Kỳ và hoàn trả “các tỉnh bị mất” tại Nam Kỳ lại thẩm quyền của ông. 19  Đến mức liên quan tới mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa, cũng như sự hay biết của Pháp về mối quan hệ đó, người ta chỉ còn cách đồng ý với Giáo Sư Ella Laffey là kẻ kết luận, “… Pháp chỉ một ít lý cớ, trong trường hợp Việt Nam, để gọi mối quan hệ triều cống “có tính cách ký danh và giả tưởng” [“nominal et fictive”, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] vào một thời điểm khi dưới một sự đe dọa được cảm nhận chung, các quan hệ giữa hai nước chặt chẽ hơn và năng động hơn bất kỳ thời điểm nào trước đó trong suốt triều nhà Nguyễn”. 20  Chính vì thế chính phủ Việt Nam đã bác bỏ các lời tuyên xác của Pháp tại Bắc Kỳ và rõ ràng phẫn uất trước sự hiện diện của Pháp tại Nam Kỳ.
       Cuộc khủng hoảng tạo ra bởi sự can thiệp của Trung Hoa trùng hợp với sự bổ nhiệm Đô Đốc Jauréguiberry làm bộ trưởng hải quân vào đầu năm 1879.  Một trong các công tác đầu tiên của ông là đối phó với hành động của Trung Hoa, và từ khởi đầu Jauréguiberry đã biểu lộ một ý định gạt sang một bên bất kỳ mối quan hệ Việt Nam – Trung Hoa nào.  Trong Tháng Sáu, Jauréguiberry tái xét tình hình trong một bản báo cáo dài.  Ông nhận xét rằng một chế độ bảo hộ sẽ nhất định làm tan biến giấc mơ của vua Tự Đức rằng nước Pháp sẽ triệt thoái ra khỏi Bắc Kỳ hay nhượng lại bất kỳ lãnh thổ nào ở Nam Kỳ; nó cũng sẽ chấm dứt bất kỳ sự tuyên xác nào về các ràng buộc đặc biệt giữa Trung Hoa và Việt Nam.  Một chế độ bảo hộ của Pháp sẽ được giải quyết bởi áp lực của Pháp trên Huế mà không lưu ý đến các ý muốn của Trung Hoa.  Ông lập luận rằng chính sách của Pháp không thể tiếp tục trên căn bản hiện hữu của nó, và ông đã trưng dẫn một báo cáo từ Đô Đốc Lafont trong đó vị thống đốc nhận định rằng hoặc Pháp triệt thoái khỏi Bắc Kỳ, cho phép mỗi quốc gia tự mình theo đuổi quyền lợi riêng của mình tại đó, hay là phải thiết lập, một cách không mơ hồ, một chế độ bảo hộ.  Cả Lafont và Jauréguiberry đều tán thành đường lối kể sau, và Jauréguiberry lập luận cho một cuộc viễn chinh quân sự để cưỡng hành các lời tuyên xác của Pháp.  “Để đạt được các kết quả bền vững và thỏa đáng”, ông cảnh cáo, “chính phủ phải đành chịu một kinh phí đáng kể cho các sự trang bị hải quân và cho sự bố trí các lực lượng quân sự ”. 21  Đối với Jauréguiberry, Bắc Kỳ đòi hỏi chi phí và rủi ro vượt quá một vụ biểu dương hải lực.
Khả tính của sự tranh giành từ Âu Châu đã bổ túc tính khẩn cấp cho lời thỉnh cầu của viên bộ trưởng hải quân.  Jauréguiberry ghi nhận rằng các chính phủ Đức và Tây Ban Nha đang tìm cách lập các tòa lãnh sự tại Bắc Kỳ, và theo một báo cáo được soạn thảo cho bộ ngoại giao, người Anh tán thành sự can thiệp của Trung Hoa tại Bắc Kỳ như một phương thức để ngăn chặn sự tiếp cận của Pháp vào thị trường Trung Hoa.  Jauréguiberry nhấn mạnh nhu cầu mở ngỏ một sự tiếp cận thương mại vào Vân Nam trước người Anh, các kẻ đang tiến tới xuyên qua Miến Điện, và ông cũng ghi nhận sự khai thác khả hữu các tài nguyên khoáng sản được cho là bao la tại vùng thượng du Bắc Kỳ.  Bởi việc đánh bại các kẻ cạnh tranh Âu Châu, Pháp sẽ cung cấp sự kiểm soát và ổn định cần thiết cho sự khai thác thương mại miền Bắc Kỳ.  Sự can thiệp quân sự nhằm kềm chế nạn hải tặc dọc sông Hồng là một bước mở đầu cần thiết cho việc mậu dịch và sự khai thác tiềm năng khoáng sản trong nội địa.  Jauréguiberry đã biện minh sự can thiệp như thế theo các điều khoản của Hiệp Ước 1874 cam đoan dành cho Pháp thẩm quyền để bảo đảm hoạt động mậu dịch trật tự tại Bắc Kỳ. 22  Sử dụng các lập luận về chiến lược, kinh tế, và chính trị, cũng như sự hấp dẫn về uy tín, Jauréguiberry nhấn mạnh rằng thời cơ đã đến để áp đặt một chế độ bảo hộ trên nhà vua Tự Đức ngoan cố.
Trong Tháng Mười, Jauréguiberry trình bày một kế hoạch can thiệp quân sự.  Ông yêu cầu các tín khoản để tài trợ một đoàn quân viễn chinh sáu nghìn người, ba nghìn binh sĩ Âu Châu và một quân số tương đương lính đánh thuê Việt Nam; họ sẽ được yểm trợ bởi mười hai tàu vũ trang để tuần tra con sông tại Bắc Kỳ và các hải phận duyên hải.  Ông đã duyệt lại các lý do cho sự can thiệp: sự đối nghịch khăng khăng của vua Tự Đức đối với các đòi hỏi của Pháp; “các sự né tránh” của Việt Nam các nghĩa vụ trong hiệp ước 1874; nhu cầu cần phá vỡ mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa; sự hiện diện của các nhóm du kích phi chính quy dọc hai bên thủy lộ sông Hồng đến Vân Nam; và sự ngăn cản của các cường lực Âu Châu khác việc thiết lập tại miền bắc thuộc địa Pháp từ Nam Kỳ.  Jauréguiberry lập luận rằng sự phân chia lãnh thổ Việt Nam là giả tạo, và ông dự liệu một liên bang chung cuộc gồm Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Lào dưới sự thống trị của Pháp.  Một cuộc viễn chinh vào Bắc Kỳ sẽ là một bước tiến quan yếu để vươn tới mục đích này của sự thống nhất áp đặt bởi Pháp.  Ông nhấn mạnh, thật là vô ích để tưởng tượng rằng một chế độ bảo hộ có thể giành đoạt được bằng các phương pháp ngoại giao thuần túy. 23  “Mỗi sự trì hoãn trong việc tìm kiếm một giải pháp”, ông nhận định, “khiến cho tình trạng của chúng ta ngày càng trở nên khó khăn một cách liên tục hơn”. 24  Jauréguiberry lạc quan về sự dễ dàng cho một lực lượng quân sự có thể chinh phục các địa điểm then chốt trong miền.  Ông dự liệu rằng sự sử dụng binh sĩ Việt Nam được tuyển mộ từ các kẻ cải đạo theo Công Giáo sẽ làm giảm bớt nhu cầu về các lực lượng Pháp chính quy, và các số thu về quan thuế sẽ nhiều hơn để bồi hoàn phí tổn của các hoạt động quân sự. 25  Ông đã đề nghị rằng một tín khoản sáu triệu phật lăng sẽ cần tìm kiếm để phóng ra cuộc viễn chinh.
Tuy nhiên, nội các lo sợ rằng sự can thiệp sẽ khiêu khích các cường lực Âu Châu khác, và đã ngần ngại để yêu cầu nghị viện cấp các kinh phí to lớn.  Bộ Ngoai Giao ở Quai d’Orsay cũng nghi ngờ viên Bộ Trưởng Hải Quân hung hăng, và đã tranh luận thắng lợi cho sự sử dụng các phương cách ngoại giao để đạt được chế độ bảo hộ.  Trên hết, hoạt động của Pháp tại Bắc Kỳ “là né tránh bất kỳ điều gì có thể mang lại sự can thiệp dáng vẻ của một cuộc chinh phục, nói một cách chính xác”. 26  Các nhà lãnh tụ phe cộng hòa tại Paris tán thành một đế quốc tại Đông Nam Á nhưng lo sợ rằng chủ trương phiêu lưu quân sự có thể vuột ra khỏi tầm tay kiểm soát và tạo ra các tình thế phức tạp nguy hiểm về chính trị và tốn kém.  Jauréguiberry được phép gia tăng quân số Pháp đồn trú tại các hải cảng theo hiệp ước, và các sự tuần tra hải quân Pháp tại vùng châu thổ được tiến hành, nhưng không được làm điều gì nhiều hơn thế.
Mũi tấn công quan trọng trong nỗ lực của Pháp để giành đạt một sự bảo hộ tại Bắc Kỳ vẫn là ngoại giao và tập trung quanh một đặc sứ được phái đến Huế với mục đích thuyết phục vua Tự Đức chấp nhận một sự tái xét bản hiệp ước 1874.  Để đổi lấy việc chấp thuận một chế độ bảo hộ tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ cho người Pháp, viên sứ giả được phép đề nghị cung cấp cho vua Tự Đức sự trợ giúp của Pháp để giành lại sự kiểm soát trên các thần dân bất phục tùng của ông tại miền bắc. 27  Song chính sách ngoại giao của Pháp tại Việt Nam dựa trên một giả định sai lạc rằng sự “rối loạn” của Bắc Kỳ gây phiền nhiễu lớn lao cho các thẩm quyền Việt Nam tại Huế.  Điều chắc chắn rằng vùng đất biên giới Bắc Kỳ -Trung Hoa được cư trú bởi một hỗn hợp nhiều sắc dân khác biệt và bị xáo trộn bởi một loạt “các băng đảng” tham gia vào các cuộc đột kích cướp bóc.  Thẩm quyền của chính phủ Việt Nam thường nhường bước trước quyền lực thực tế nắm giữ bởi các thủ lĩnh làng xã địa phương.  Người Pháp, dựa trên các báo cáo từ người Việt Nam theo Công Giáo và các nhà truyền đạo Âu Châu, mô tả tình hình tại Bắc Kỳ như một tình trạng xáo trộn và sắp nổi loạn.  Người Pháp tự giới thiệu mình như các đồng minh sẽ mang lại trật tự, nhưng hiển nhiên là vua Tự Đức mong muốn đạt tới sự thỏa hiệp với các thủ lĩnh địa phương, chẳng hạn như Lưu Vĩnh Phúc, hay ngay cả sự can thiệp của Trung Hoa, hơn là vòng tay ôm của Pháp.  Trong thực tế, Lưu Vĩnh Phúc, kẻ mà người Pháp tố cáo là quân thổ phỉ, đã hợp tác với các lực lượng Việt Nam và Trung Hoa chống lại Pháp và giữ tư thế như một võ quan phục vụ nhà vua Việt Nam.  Thương mại Pháp hay Âu Châu xuyên qua Bắc Kỳ vào Trung Hoa mang lại ít lợi lộc cho chính quyền Việt Nam, đặc biệt nếu Pháp kiểm soát thuế quan và đòi hỏi một chế độ bảo hộ.  Giá đòi hỏi của Pháp quá cao đối với Huế, và không có gì đáng ngạc nhiên rằng phái bộ Pháp tại kinh đô Việt Nam đã không đạt được chế độ bảo hộ mong muốn.
Trong khi đó, áp lực cho một chính sách hung hăng hơn, kể cả một sự biểu dương sức mạnh, xuất hiện từ nhiều nguồn gốc khác nhau.  Khuếch đại sự báo động của Jauréguiberry, thống đốc Nam Kỳ, Le Myre de Vilers, thúc dục sự can thiệp tức thời.  Ông trưng dẫn vụ ám sát thương nhân Pháp, ông Francelli, như một cơ hội cho sự khẳng quyết các quyền hạn của Pháp tại Bắc Kỳ. 28  Cả các viên chức lẫn các quyền lợi cá nhân đều kêu gọi một chính sách tích cực.  Lãnh sự Pháp tại Thượng Hải khẩn cầu sự can thiệp, giống như một nhóm các doanh nhân Âu Châu và Trung Hoa tại Hải Phòng đã thỉnh cầu sự trợ giúp trong việc kềm chế nạn hải tặc.  Nam Tước (Baron) de Caobourg, chủ tịch Hội Nghiên Cứu Hàng Hải và Thuộc Địa (Society for Maritime and Colonial Studies), yêu cầu một sự chiếm đóng sông Hồng để mở cửa Vân Nam cho thương mại Pháp.  Và báo chí của phe cộng hòa, nhất là tờ Le Temps và tờ République franҫaise của phe Gambetta, mở chiến dịch cổ động cho sự can thiệp. 29
Trên hết, thái độ của chính phủ Trung Hoa đối với Bắc Kỳ gây bối rối cho các viên chức Pháp.  Mặc dù đội quân của Tướng Feng Tsu-ts’ai đã bắt giữ và chém đầu Li Yang-ts’ai, kẻ nổi loạn vào cuối năm 1879, các lực lượng Trung Hoa đã chậm trễ trong việc triệt thoái khỏi Bắc Kỳ.  Một sự đóng quân khá lớn vẫn còn bên phía Việt Nam của biên giới gần Lạng Sơn, theo các báo cáo của Pháp.  Đại diện Pháp tại Bắc Kinh báo cáo rằng chính quyền Đế Triều đã khoa trương  nhiều sự thành công của nó trong việc bắt giữ và hành quyết Li Yang-ts’ai và tuyên bố rằng các nghĩa vụ của Trung Hoa đối với Việt Nam đã được chu toàn. 30  Mặc dù Patenôtre, đại diện Pháp tại Bắc Kinh, tuyên bố rằng quyên lợi của Trung Hoa chỉ là vấn đề uy tín và sự tự trọng tại Bắc Kỳ, ông đã thúc dục việc hành động tức thời để đối đầu với bất kỳ tham vọng nào của Trung Hoa.  Bất kể các sự cứu xét nào khác có thể ảnh hưởng đến thái độ của chính phủ Pháp, sự thách đố của Trung Hoa tại Bắc Kỳ là yếu tố trực tiếp nhất và nghiêm trọng nhất.
Vào lúc này vua Tự Đức bắt đầu thực hiện các sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho một sứ đoàn khác sang triều cống Trung Hoa, và tờ Peking Gazette đã dùng cơ hội này để xác nhận điều mà Patenôtre đã mô tả như “quyền chủ tể mạo danh” trên Việt Nam.  Sự kiện này bổ túc bằng chứng cho sự tuyên xác của Trung Hoa về một mối quan hệ đặc biệt với Việt Nam làm rầy rà chính phủ Pháp.  Jauréguiberry đã muốn ngăn chặn hoàn toàn sứ đoàn này, nhưng [Charles de] Freycinet [Thủ Tướng Pháp từ 28 Tháng Mười Hai 1879 – 23 Tháng Chín 1880, sau nội các của William Waddington và trước nội các lần thứ nhất của Jules Ferry, chú của người dịch] thú nhận rằng có ít điều có thể làm được để ngăn cản sứ đoàn này ngoài việc bày tỏ sự không hài lòng đối với Huế. 31  Tuy nhiên, sứ đoàn triều cống dự trù đã thuyết phục Freycinet rằng một chính sách cứng rắn hơn tại Bắc Kỳ là thiết yếu.  Trong Tháng Bảy ông thú nhận với Jauréguiberry, “Tôi tin ý tưởng nguyên thủy của ông về sự chiếm đóng vùng đất đó {Bắc Kỳ} thì vững chắc hơn là việc chỉ tuần cảnh ở các cửa sông mà nội các đã ủng hộ”.  Ông chấp thuận kế hoạch của Jauréguiberry về việc phái ba nghìn binh sĩ Âu Châu sang Bắc Kỳ, và ông đã đề nghị tìm kiếm các tín khoản ở Hạ Nghị Viện Pháp ngay khi tái nhóm sau kỳ nghỉ mùa hè.  Về phía Bắc Kinh, Freycinet tiên đoán một cách kín đáo “không có gì để lo ngại về phía Trung Hoa”. 32
Trước khi cuộc viễn chinh quân sự đề nghị có thể được chấp thuận, nội các Freycinet bị đánh đổ và Jauréguiberry nhường bộ hải quân cho Đô Đốc Cloué.  Chính phủ mới, được đứng đầu bởi Jules Ferry, đã quyết định bám lấy chính sách nguyên thủy về hoạt động tuần cảnh hạn chế hơn tại vùng châu thổ sông Hồng thay vì một sự chiếm đóng quân sự toàn diện.  Bộ Trưởng Ngoại Giao mới, Barthélemy Saint-Hilaire, và Đô Đốc Cloué tái tục các nỗ lực ngoại giao để giành đạt sự bảo hộ từ Huế. 33
Với sự ra đi của Jauréguiberry khỏi bộ hải quân, kẻ biện hộ mạnh mẽ nhất cho một sự can thiệp trực tiếp là Thống Đốc Nam Kỳ, Le Myre de Vilers, kẻ nhấn mạnh rằng các xáo trộn ở Bắc Kỳ tượng trưng cho một mối nguy hiểm kéo dài đối với các quyền lợi của Pháp tại Á Châu.  Các báo cáo từ các lãnh sự Pháp phát hiện sự kích động hơn nữa, và các tàu chiến của Trung Hoa đang xuất hiện trên các hải phận Việt Nam với chu kỳ thường xuyên gia tăng.  Điều đáng báo động hơn nữa là một báo cáo rằng lãnh tụ Quân Cờ Đen, Lưu Vĩnh Phúc, đã sang Trung Hoa để tuyển mộ các quân sĩ bổ túc trong sự dự trù một cuộc tranh chấp với Pháp.  Le Myre de Vilers nhận định rằng sự can thiệp của Trung Hoa và sứ đoàn dự trù sang Bắc Kinh rõ ràng phơi bày ý định của vua Tự Đức muốn vượt thoát khỏi áp lực của Pháp với sự ủng hộ từ Bắc Kinh và Quân Cờ Đen. 34  Ông ta quyết định quay trở về Pháp nơi ông có thể đích thân tranh luận cho trường hợp can thiệp.
Le Myre de Vilers đã lập lại nhiều lập luận đã sẵn được đưa ra tán đồng một sự bảo hộ của Pháp tại Bắc Kỳ.  Tuy nhiên, ông nhìn nhận một sự miễn cưỡng của Paris để tiến tới việc cam kết sâu đậm hơn cho một sự giao chiến quân sự tại Á Châu vào một thời điểm khi mà một đoàn viễn chinh khá lớn vừa được gửi sang Tunisia.  Nhận thức đầy đủ về các sự lo lắng của phe cộng hòa, Le Myre đưa ra sự chống đối của ông trước bất kỳ “sự phiêu lưu quân sự” nào và nhân mạnh đến khía cạnh “hòa bình” và tiệm tiến trong đề nghị của ông.  Một sự chiếm đóng toàn diện Bắc Kỳ sẽ đòi hỏi ba mươi đến bốn mươi nghìn binh sĩ, ông ước lượng.  Thay vào đó, ông khuyến cáo một lực lượng ít hơn vào khoảng ba nghìn quân làm nền tảng cho sự bành trướng của Pháp vào miền bắc Việt Nam.  Ông cảnh cáo rằng tiến trình sẽ không phải là “công việc của một ngày mà là của nhiều năm dài”, kết hợp các áp lực quân sự và ngoại giao để thu đạt được các mục tiêu của Pháp.  Công thức của ông cho sự bành trướng của Pháp, điều ông quen lập lại nhiều lần để tái bảo đảm cho một chính phủ khó khăn tại Paris, rằng sự kiểm soát trên Bắc Kỳ sẽ giành đạt được “về mặt chính trị, hành chính, hòa bình, và tiến bộ” hơn là bởi một cuộc chinh phục quân sự.  Hà Nội hay Huế có thể chiếm đoạt một cách dễ dàng, ông nhận định, nhưng sự vụ ở Tunisia “đã chứng tỏ một cách quá phong phú rằng việc chiếm đóng thủ đô của một xứ bán mọi rợ không thôi vẫn chưa đủ”.  Một cuộc viễn chinh quân sự theo cung cách Âu Châu cổ điển sẽ cho thấy là vô ích tại một quốc gia nơi “mà sinh hoạt công cộng không hiện hữu, nơi mỗi làng xã cấu thành một loại cộng hòa độc lập”. 35  Để giữ các quân số binh sĩ Âu Châu ở mức thấp, các sự tuyển mộ người Việt Nam sẽ được áp dụng một cách rộng rãi, và ông tán thành việc thay thế các quan lại Việt Nam cứng đầu bằng các kẻ cộng tác sẽ điều hành xứ sở dưới sự giám sát của Pháp, như đã từng được thực hiện tại Nam Kỳ.
Các lập luận của Le Myre de Vilers nhận được sự đón tiếp thiện cảm ở cả bộ ngoại giao lẫn bộ hải quân.  Trong Tháng Bẩy, chính phủ, bất kể sự bận tâm về vấn đề Tunisia, đã yêu cầu nghị viện một ngân khoản hai mươi bốn trăm nghìn phật lăng cho một đoàn viễn chinh để khai thông sông Hồng cho hoạt động thương mại.  Dự luật được thông qua chỉ sau một cuộc tranh luận ngắn ngủi và đã cung cấp, như Saint Hilaire nhận xét, một cơ hội để giúp cho các quan điểm của Pháp được thắng thế tại Đông Dương. 36  Trong các chỉ thị của ông cho Le Myre de Vilers, Đô Đốc Cloué nhấn mạnh sự khôi phục uy tín của Pháp và sự tăng cường các chính sách của Pháp tại Huế, nhưng ông cũng nhắc lại sự cảnh cáo rằng các áp lực sử dụng phải không được có tính chất của một hành động quân sự trong bầt kỳ cung cách nào”. 37  Đội quân đồn trú tại Hà Nội sẽ được tăng cường như một lời cảnh cáo đối với vua Tự Đức, nhưng, một cách nào đó, bề ngoài của một cuộc viễn chinh quân sự cũng sẽ phải được né tránh.  “Sự gia tăng này”, Le Myre de Vilers nêu ý kiến, “phải diễn ra trong các bước tiến nhỏ và không tạo chấn động trong một cách để không một ai nhận thức ra, rằng chúng ta tăng gấp đôi kích thước các lực lượng hiện nay của chúng ta”. 38  Đây sẽ là một sự bành trướng đế quốc một cách âm thầm, giảm thiếu tối đa các rủi ro chính trị nội bộ bằng việc giới hạn sự khoa trương quân sự.   Le Myre de Viler hy vọng rằng bóng ma của cuộc chinh phục quân sự có thể được tránh khỏi, và ông thành thực tin tưởng rằng sự bành trướng tại Bắc Kỳ sẽ diễn ra “một cách hòa dịu” và “tiệm tiến”.  Bộ hải quân, nhậy cảm với sự cạn kiệt năm mươi nghìn binh sĩ gây ra bởi đòan viễn chinh Tunisia, hậu thuẫn cho chính sách tiệm tiến của ông.
Sự nhấn mạnh trên chủ trương tiệm tiến không đủ tái bảo đảm chính phủ Trung Hoa, ngắm nhìn với sự quan ngại gia tăng trên các sự chuẩn bị của Pháp và bắt đầu thảo luận về phương cách đáp ứng. 39  Trong Tháng Chín, Sứ Thần Trung Hoa tại Pháp, Tseng Chi-tse [Tăng Kỷ Trạch?], thông báo cho Bộ Ngoại Giao Pháp rằng chính phủ Trung Hoa đã không nhìn nhận bản hiệp ước năm 1874 và các sự tuyên xác của Pháp theo bản hiệp ước này. 40  Vào cuôi năm, chính phủ Pháp, giờ đây được đứng đầu bởi Léon Gambetta, bác bỏ lập trường của họ Tseng qua việc nhận định rằng bản hiệp ước 1874 đã được thi hành trong gần tám năm và chính phủ Trung Hoa đã hoàn toàn hay biết về các điều khoản của nó mà không đưa ra bất kỳ sự phản đối nào trước đây về bản hiệp ước. 41  Điều trở nên rõ ràng là hai nước đang hướng đến sự tranh chấp.
Trong khi đó, Bắc Kinh yêu cầu các đề nghị từ các tổng đốc các tỉnh về các phương thức để đối phó với mối nguy hiểm từ Pháp.  Vào cuối năm 1881, tổng đốc Quảng tây, Ch’ing-yu, đã gửi văn thư của ông lên Bắc Kinh.  Ông nhấn mạnh rằng Trung Hoa không thể giữ sự thờ ơ trước các kế hoạch của Pháp nhằm trục xuất quân hải tặc ra khỏi sông Hồng.  Băc Kỳ cung cấp một rào cản hay “phên dậu” phương nam cho Vương Quốc Trung Tâm, và hành động tức thời thì cần thiết để ngăn cản sự tiếp cận từ sông Hồng vào miền nam Trung Hoa.  Không làm như thế sẽ khiến cho Trung Hoa dễ bị xâm hại và phải chịu đựng thêm các đòi hỏi của Pháp. 42 Theo sáng kiến riêng của chính mình, Ch’ing-yu đã sẵn phái một lực lượng tăng cường nhỏ tiến vào Bắc Kỳ. 43
Trong khi chính phủ Trung Hoa tiến đến sự kháng cự, Le Myre de Vilers khởi xướng chính sách bành trướng gia tăng.  Ông trưng dẫn các tình tiết gần đây – sự bắt giữ hai thần dân Pháp bởi Quân Cờ Đen và sự ngược đãi một nhân viên của phái bộ ngoại giao Pháp tại Huế -- như sự biện minh cho việc gửi các quân tăng phái nhằm tăng gấp đôi số đồn trú tại Bắc Kỳ.  “Trái cây đã chín”, ông loan báo, “giờ đây là lúc hái quả”. 44  Vào giữa Tháng Một, ông thông báo Paris rằng ông đã tăng gấp đôi lực lượng đồn trú tại Hà Nội, và ông đã bổ nhiệm Đại Tá Rivière đứng đầu đoàn viễn chinh.  Ông đoan chắc với các thượng cấp của ông rằng “Sẽ không có các hoạt động quân sự … chỉ có các biện pháp dự phòng”. 45  Đúng vào lúc Le Myre de Vilers đưa ra các chỉ thị cho Rivière, một điện tín đến từ Paris ra lệnh cho ông đình chỉ dự án trong khi chờ đợi sự đến nơi của Đô Đốc Pierre, kẻ sẽ đảm nhận sự kiểm soát tất cả các lực lượng hải và lục quân tại Việt Nam.  Rõ ràng chính phủ Gambetta trù tính một cuộc viễn chinh ồ ạt đã được chuẩn bị một cách bí mật cho Bắc Kỳ, hay ít nhất đã có một vài bằng chứng cho sự kiện này, và Le Myre de Vilers, nghĩ rằng chính sách của ông bị đẩy lui, đã đe dọa từ chức. 46  Tuy nhiên, “Chính Phủ Vĩ Đại” ngắn ngủi của Gambetta bị sụp đổ trước khi bất kỳ dự án to lớn nào có thể được khởi động, nếu trong thực tế đã có các kế hoạch như thế hiện hữu.
Sự thay đổi chính phủ đã mang Jauréguiberry trở lại bộ hải quân dưới thời [Thủ Tướng] Freycinet, và các mệnh lệnh cho cuộc viễn chinh của Đô Đốc Pierre không bao giờ được ban ra.  Le Myre de Vilers quay trở lại chính sách tiệm tiến của ông ta và tái ban hành các chỉ thị cho Rivière để mang năm trăm quân ra Hà Nội.  Mặc dù Jauréguiberry mong muốn có một đoàn viễn chinh đông hơn, Freycinet trở lui với sự dè dặt và nhấn mạnh rằng các chính phủ trước đã quyết định về một chiều hướng ôn hòa hơn, và Jauréguiberry đã nhượng bộ.  Freycinet lo sợ rằng một cuộc nổi dậy chống lại Pháp sẽ phát triển nếu một cuộc can thiệp quân sự toàn diện xảy ra.  Việc lớn nhất ông sẽ chấp nhận là “một sự bố trí quân sĩ nào đó” tại Bắc Kỳ. 47  Le Myre de Vilers ra lệnh cho Rivière né tránh bất kỳ sự tranh chấp nào với các lực lượng Trung Hoa trong miền.  Ông ta sẽ cần tập trung các lực lượng của mình tại Hà Nội, chiếm giữ thành nếu cần thiết cho an ninh hay để mở cửa cho sự lưu thông trên sông Hồng.  Ngay khi Rivière đến Hà Nội vào đầu Tháng Tư ông ta đã quyết định rằng tòa thành không thể để nằm trong tay Việt Nam.  Vào ngày mười bảy, lập lại thủ đọan của Garnier năm 1873, Rivière chiếm đóng tòa thành và tự tin đã kiểm soát được thành phố.
Cuộc tấn công của Rivière vào tòa thành đã khiến sự vụ ở Bắc Kỳ tiến tới một cuộc khủng hoảng khác.  Đế xuất của viên tư lệnh Pháp, mặc dù được dự liệu, xem ra hơi vội vã đối với Le Myre de Vilers, kẻ hy vọng hành xử áp lực trên Huế trước khi có sự chiếm đóng tòa thành, nhưng ông đã báo cáo về Paris rằng sự ù lì của Việt Nam và bằng chứng rằng vua Tự Đức đã tự chọn việc ngã vào vòng tay của Trung Hoa và Quân Cờ Đen khiến cho hành động cứng rắn trở nên cần thiết. 48  Le Myre de Vilers có cảnh cáo Rivière, một khi tòa thành được chiếm giữ, cần né tránh bất kỳ hành động nào khác có thể xúc phạm đến các nhà chức trách địa phương và tạo ra “các sự phức tạp không cần thiết”.  Ông đã trưng dẫn tình hình tại Âu Châu và Ai Cập như một sự cứu xét “không cho phép Pháp tham dự vào một cuộc tranh chấp kéo dài và tốn kém” tại Á Châu.  Trong thực tế, sự ngần ngại của nước Pháp về kinh đào Suez chỉ khích lệ các tiếng nói hiếu chiến hơn tại Bắc Kinh và Huế.  “Sự không tham gia của chúng ta tại Ai Cập đã có một tác động lớn lao tại Á Châu và đã bị nhìn như một sự thoái vị”. 49
Hành động của Rivière cũng giống như sự thoái bộ của Pháp về vấn đề Ai cập đã khích động quyết tâm của Việt Nam và Trung Hoa để kháng cự lại các đòi hỏi của Pháp tại Bắc Kỳ.  Trong sự sửa soạn chiến tranh Việt Nam đã củng cố các thành lũy của họ ở Thuận An, phòng vệ lối tiến bằng đường biển đến Huế, và vua Tự Đức yêu cầu viện trợ quân sự của Trung Hoa.  Nhiều bộ đội Trung Hoa hơn vượt qua biên giới tiến vào Bắc Kỳ, và Quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc củng cố các đồn lũy tại Sơn Tây và Hưng Hóa. 50  Đến mức mà chính phủ Trung Hoa quan tâm, cuộc tấn công của Rivière mang lại cho người Pháp sự kiểm soát một lối tiếp cận bằng đường sông vào chính Vân Nam, và Trung Hoa đã quyết định đối đầu với sự thách đố.  Như tác giả Eastman ghi nhận, “…từ thời điểm này, Trung Hoa đi theo con đường dẫn trực tiếp đến chiến tranh”. 51  Các viên chức tại miền nam Trung Hoa đã thúc dục chính phủ có hành động chống lại các sự tiến quân của Pháp, và giờ đây Trung Hoa đã quyết định ủng hộ chính quyền Việt Nam yếu ớt trong cuộc đấu tranh của nó.
Chính phủ Pháp nhận thức rằng các sự sửa soạn chiến tranh đang tiến hành nhưng quyết định rằng chế độ bảo hộ có thể vẫn có thể đạt được mà không cần đến một cuộc tranh chấp công khai.  Từ Bắc Kinh, Sứ Thần Pháp, Frederic Bourée, báo cáo rằng người Trung Hoa đang phỉnh gạt, mặc dù ông thúc dục chính phủ ông hãy tiến hành mau lẹ để thiết lập một sự bảo hộ trước khi Trung Hoa có thể can thiệp. 52  Từ Sàigòn, Le Myre de Vilers nhấn mạnh rằng chính quyền vẫn còn vững mạnh, nhưng ông đề nghị một sự thỏa hiệp sẽ dành cho Pháp khu vực châu thổ, để lại vùng thượng du trong tay các nhóm băng đảng Việt Nam và Trung Hoa không chính quy. 53  Thời gian, ông lập luận, sẽ đứng về phía Pháp, và ông đã ra lệnh cho Rheinart tại Huế và Rivière tại Hà Nội phải né tránh bất kỳ sự khiêu khích không cần thiết nào.  Trong một điện tín gửi Rivière ông đồng ý rằng ở một số điểm Quân Cờ Đen sẽ phải bị loại bỏ như một chướng ngại vật cho hoạt động thương mại, nhưng trong nhất thời ông khuyến cáo sự cẩn trọng trong khi đối phó với họ.  Ông bác bỏ lời yêu cầu của Rivière về việc thiết lập một đồn quân sự tại giao điểm của sông Hồng và sông Lô (Clear River).  Trên hết, “lòng yêu nước đòi hỏi rằng chúng ta phải né tránh bất kỳ sự khó khăn nào có thể dẫn dắt ông tiến vào một cuộc tranh chấp với Trung Hoa”. 54  Một lý do khác cho sự dè dặt là khuynh hướng cứng rắn gia tăng của phe chủ chiến tại Huế, đứng đầu bởi Tôn Thất Thuyết, viên thượng thư chống Pháp cương quyết nhất của vua Tự Đức. 55  Mặc dù Le Myre de Vilers vẫn còn tin tưởng rằng các sự tuyên xác của Pháp trên vùng Thung Lũng sông Hồng sẽ được thiết lập, ông nhấn mạnh rằng một chính sách tiệm tiến đòi hỏi sự kiên nhẫn, chứ không phải hành động quân sự vội vàng về phía chính phủ Pháp.
Trong khi Le Myre de Vilers khuyến cáo sự thận trọng khi đối diện với các căng thẳng dâng cao, Đô Đốc Jauréguiberry đã quyết tâm cưỡng đặt chế độ bảo hộ.  Bên lề một trong những báo cáo của Le Myre de Vilers kêu gọi sự kềm chế, Jauréguiberry hạ bút phê sự quyết tâm của ông: “Chúng ta không thể trở lui giờ đây!” 56  Ông tán thưởng hành động mạnh mẽ được thực hiện tại Bắc Kỳ, và vào cuối Tháng Sáu ông đã gửi cho ông Freycinet một văn thư trong đó ông trình bày các hành động của Pháp như một phần thưởng quá trễ nãi đối với “các nỗ lực và hy sinh lớn lao của chúng ta”. 57  Đối với các sự tuyên xác của Trung Hoa, Jauréguiberry nhấn mạnh rằng sự can thiệp của Bắc Kinh vào các chuyện của Việt Nam “không thể tha thứ được”, và ông thúc dục rằng chính phủ Pháp hãy có một lập trường cứng rắn chống lại sự can thiệp của Trung Hoa tại Việt Nam. 58  Ông lập luận rằng sự ngoan cố của Huế chắc chắn phản ảnh sự bảo đảm ủng hộ từ Bắc Kinh.  Ngay khi Huế nhân thức được rằng Trung Hoa không còn có thể cầu khẩn được nữa, khi đó Pháp có khả năng áp đặt các đòi hỏi của mình.  Thời điểm đã đến cho một giải pháp xác định đối với Bắc Kỳ, và Jauréguiberry bày tỏ sự bực tức đối về sự hiểu biết của Le Myre de Vilers.  Ông đoan chắc với viên thống đốc rằng Ai Cập không hàm ý sự yếu kém của Pháp, và ông thúc dục Le Myre hãy quay trở lại các chính sách cứng rắn đã từng được xướng xuất trong mùa xuân. 59
Trong Tháng Mười Jauréguiberry phục hồi lại kế hoạch ba năm trước của ông về việc gửi một đoàn viễn chinh quân sự to lớn sang Bắc Kỳ.  Khác với nhóm nhỏ các binh sĩ dưới quyền chỉ huy của Rivière, ông một lần nữa kêu gọi một lực lượng ít nhất là sáu nghìn binh sĩ. 60  Duclerc, người thay thế Freycinet tiếp theo sau vụ Ai Cập, tán thành quan điểm của Bộ Trưởng Hải Quân.  Toàn thể nội các thảo luận tình hình Bắc Kỳ và đồng ý rằng sẽ là điều cần thiết để giành được sự thống trị của Pháp bằng hành động quân sự.  Chính phủ đã kết luận rằng nó không có sự lựa chọn ngoài việc từ bỏ chính sách hòa dịu của nó “và để bảo đảm, bằng việc phái các lực lượng đầy đủ, sự thống trị hữu hiệu của chúng ta tại Thung Lũng Sông Hồng”.   Duclerc nhìn nhận rằng dự án này sẽ làm phức tạp các quan hệ của Pháp với Trung Hoa, nhưng ông quyết tâm tìm kiếm cấp khoản từ Hạ Viện Pháp sớm nhất khi nó tái nhóm. 61
Jauréguiberry tức thời cung cấp các kế hoạch cho sự can thiệp và phô bày các lập luận đã được sử dụng ba năm trước.  Ông cho rằng các phương pháp ngoại giao không thôi sẽ không bao giờ thành công, và chính vì thế vũ lực sẽ cần thiết đễ cưỡng bách sự chấp nhận một chế độ bảo hộ của Pháp.  Ông tuyên bố rằng một công thức có thể được tìm thấy để cứu vớt lòng tự trọng của Trung Hoa và rằng Trung Hoa có thể thực sự được nhẹ gánh để thoát ra khỏi nghĩa vụ “nặng nề” [“onerous”, nguyên bản ghi sai là “onorous”, chú của người dịch] và được định nghĩa một cách mơ hồ đối với Việt Nam.  Ông giả định một cách mơn trớn rằng Trung Hoa sẽ chào đón hoạt động mậu dịch mở rộng với Vân Nam mà sự kiểm soát của Pháp trên sông Hồng sẽ mang lại. 62  Trong khi phát biểu các quan điểm này, Jauréguiberry đã phô bày một cái nhìn tập trung vào Âu Châu thiển cận về tầm quan trọng gắn liền với mối quan hệ triều cống cổ truyền giữa Trung Hoa và Việt Nam.  Từ quan điểm của ông hiệp ước năm 1874 đã chấm dứt về mặt pháp lý các ràng buộc như thế, một quan điểm mà hiển nhiên cả chính phủ Trung Hoa lẫn Việt Nam đều không chia sẻ.  Về phí tổn đối với Pháp cho một cuộc viễn chinh quân sự, ông ước lượng một tín khoản ít nhất là sáu triệu rưỡi phật lăng sẽ phải được cần đến, nhưng ông ghi nhận rằng tổng số thu về thuế quan cho Bắc Kỳ tương đương với hai mươi mốt triệu, nhiều hơn khoản đền bù cho các sự hy sinh của Pháp.  Sự khai thác tương lai các hầm mỏ và thương mại của Bắc Kỳ hứa hẹn biến vùng đất bảo hộ trở nên sinh lợi hơn Nam Kỳ, và khí hậu miền bắc thích hợp hơn đối với người Âu Châu; nhưng các lợi điểm của Bắc Kỳ chỉ có thể giành thắng được với sự áp dụng áp lực quân sự mạnh mẽ. 63  Bị ấn tượng bởi các lập luận này, Duclerc đồng ý yêu cầu Nghị Viện cấp mười triệu phật lăng để bảo hành cho cuộc viễn chinh. 64
Trong khi Jauréguiberry đề nghị vũ lực để mang các chính phủ Á Châu vào trong hàng ngũ, Le Myre de Vilers tiếp tục khuyến cáo một sự thỏa hiệp xuyên qua thương nghị.  Với sự yếu kém của chế độ vua Tự Đức, Le Myre de Vilers lập luận, Bắc Kỳ và Trung Kỳ nhất thiết sẽ rơi vào vòng ảnh hưởng hoặc của Pháp hay Trung Hoa.  Bởi mối quan ngại của Trung Hoa là về “bức bình phong” của biên cương phương nam, ông đề nghị rằng hai khu vực ảnh hưởng sẽ được tạo lập ra tại Bắc Kỳ với một khu trái độn trung lập nằm giữa.  Trung Hoa sẽ kiểm soát vùng thượng du dọc biên giới và Pháp sẽ nắm giữ vùng châu thổ và Thung Lũng sông Hồng. 65 Đại diện Pháp tại Huế ủng hộ cho sự thỏa hiệp này.  Rheinart nhìn thấy ít có giá trị thương mại tại Bắc Kỳ, và ông tuyên bố rằng Trung Hoa sẽ giữ cửa ngỏ Vân Nam bị đóng lại với mọi giá; chính vì thế, giá trị của vùng thượng du là tối thiểu đối với các quyền lợi kinh tế của Pháp và, với sự hiện diện kéo dài của các băng nhóm không chính thức hoạt động dọc biên giới, chúng sẽ trở thành một gánh nặng về mặt quản trị hành chính.  Giá trị duy nhất của bất kỳ sự chiếm đóng quân sự nào bên ngoài vùng châu thổ sẽ chỉ là việc giành đoạt các quầy mặc cả cho sự thương thuyết.  Vì thế, ông cũng tán thành sự thỏa thuận với Trung Hoa để phân chia Bắc Kỳ thành các khu vực ảnh hưởng. 66  Nhưng một sự thỏa hiệp cần phải đạt tới một cách mau chóng, bởi bộ đội Trung Hoa đang tiến vào Bắc Kỳ với một quân số đông đảo trong mùa thu 1882, theo các báo cáo của Pháp. 67  Lo sợ một cuộc tấn công sắp xẩy ra đã dẫn Le Myre de Vilers đến việc thỉnh cầu một sự giải quyết bằng thương thuyết, và để né tránh bất kỳ duyên cớ nào, ông ta đã hạ lệnh Rivière phóng thích bất kỳ người Trung Hoa nào, ngay cả các kẻ có vũ khí, đã bị bắt giữ. 68
Vào mùa thu 1882, Jauréguiberry càng trở nên bực tức hơn với khuynh hướng dè dặt của Le Myre de Vilers đối với sự vụ Bắc Kỳ.  Khi Le Myre de Vilers khăng khăng trong sự bào chữa của ông ta cho sự ôn hòa, Jauréguiberry không còn kiên nhẫn và ra lệnh viên thống đốc phải quay trở về Paris vào cuối năm.  Với Le Myre de Vilers bị bịt miệng, Jauréguiberry cổ động cho dự án Bắc Kỳ của ông; song ông đã gặp phải sự kháng cự tại Paris.  Mặc dù Duclerc ủng hộ Jauréguiberry, đã có các bộ trưởng khác trong nội các chống đối bất kỳ sự dính líu hải ngoại nào khác sau sự thất bại của vụ Ai cập.  Hơn nữa, tác phong hách dịch và khá lãnh đạm của Jauréguiberry đã xúc phạm một số các đồng sự của ông, và sự trình bày dài giòng của ông về dự án khi ông đệ trình kế hoạch lên nội các trong Tháng Mười Hai đã không khắc phục sự dè dặt của họ được bao nhiêu.  Jauréguiberry thú nhận một cách thẳng thắn các khó khăn liên can đến một cuộc chinh phục Bắc Kỳ, nhưng ông nhấn mạnh rằng không có sự lựa chọn nào khác và uy tín của Pháp đòi hỏi hành động tức thời.  Phiên họp nội các, được tổ chức với sự hiện diện của Tổng Thống Grévy, một kẻ chỉ trích sự bành trướng thuộc địa và một người chống đối mạnh mẽ Jauréguiberry, là một phiên họp sóng gió.  Grévy lập luận chống lại đề nghị, chủ trương rằng đất nước cần một thời gian yên tĩnh để an ủi, chứ không phải sự xáo trộn của các cuộc phiêu lưu hải ngoại.  Jauréguiberry xem sự phê bình của Grévy như một sự xúc phạm cá nhân, và có một lúc viên Bộ Trưởng Hải Quân đã đe dọa ném toàn bộ dự án vào lò sưởi và, trong một cơn tức giận, đã thảo đơn từ chức của chính ông.  Nhận thức rằng Grévy sẽ đơn giản chấp nhận nó một cách thật hả dạ, Jauréguiberry xé đơn từ chức, ném nó vào lò sưởi  và vùng vằng rởi phòng họp. 69
Cuộc khủng hoảng suýt làm sụp đổ chính phủ của Duclerc.  Mặc dù ông nhận thấy rằng đề nghị nhiều tham vọng của Jauréguiberry có thể không được chấp nhận sau phiên họp nội các náo động, Duclerc đã dàn xếp một sự thỏa hiệp.  Một lực lượng tăng phái bẩy trăm binh sĩ sẽ được gửi sang Bắc Kỳ, nâng lực lượng của Rivière lên khoảng một nghìn hai trăm quân.  Việc này có thể được thực hiện mà không cần xin ngân khoản bổ túc từ Nghị Viện, do đó tránh được một vấn đề có thể làm sụp đổ chính phủ đang lung lay của Duclerc.  Cả Grévy và Jauréguiberry đều chấp nhận sự thỏa hiệp.  Jauréguiberry tin tưởng rằng lực lượng tăng phái còn chưa đủ, nhưng ông tính toán rằng các cuộc tranh chấp khác tại Bắc Kỳ là điều tất yếu và rằng chính phủ chung cuộc sẽ bị buộc phải gửi một đoàn viễn chinh quân sự với quy mô to lớn.  Vào cuối Tháng Mười Hai, chiếc tàu Corrèze đã khởi hành với các binh sĩ tăng phái bổ túc cho Rivière. 70
Sự rối loạn của nội các trên kế hoạch của Jauréguiberry trùng hợp với các tin tức về một thỏa hiệp mà Frédéric Bourée đã đạt được với một viên chức Trung Hoa cao cấp, Lý Hồng Chương (Li Hung-chang), tại Thiên Tân vào đầu Tháng Mười Hai.  Trong mùa thu 1882, Bourée, kẻ trước đây đã thông báo cho chính phủ ông rằng phía Trung Hoa muốn phỉnh gạt, trở nên hoảng sợ về các sự chuẩn bị chiến tranh của Trung Hoa, và đã quyết định theo sáng kiến riêng của mình để dàn xếp một sự thỏa hiệp nhằm né tránh chiến tranh.  Chính phủ Trung Hoa thông báo với Bourée trong Tháng Mười Hai rằng thỏa hiệp ông ta và Lý Hồng Chương đã đề xuất, dự trù một sự khai thông mậu dịch vào Vân Nam, sự kiểm soát của Pháp vùng châu thổ, và một khu vực ảnh hưởng của Trung Hoa dọc biên giới, sẽ là căn bản cho cuộc thảo luận sâu hơn. 71  Trong tạm thời, sẽ có một sự triệt thoái bộ đội Trung Hoa tại Bắc Kỳ để né tránh bất kỳ sự đụng độ nào với các lực lượng của Pháp.  Nhất thời, có vẻ như chiến tranh giữa Trung Hoa và Pháp về Bắc Kỳ có thể được đẩy lui.  Rivière báo cáo rằng bộ đội Trung Hoa đã ngưng không tiến quân vào Bắc Kỳ, rõ ràng theo lệnh từ Bắc Kinh. 72  Bourée thích chí đánh điện cho Paris rằng ông ta đã ngăn chặn được các sự giao tranh, và ông đã tạo ra cảm tưởng rằng chính phủ Trung Hoa đã hoàn toàn chấp thuận các điều khoản của thỏa ước Lý-Bourée.  Trong thực tế, cả chính phủ Trung Hoa lẫn Pháp đều không có ý định phê chuẩn bản thỏa hiệp Li-Bourée, và cả hai bên tìm kiếm thời gian để chuẩn bị cho một cuộc lật bài tẩy trên vấn đề Bắc Kỳ.
Không mấy ngạc nhiên, Jauréguiberry phản đối các cuộc thương thảo Lý-Bourée mà ông nhấn mạnh nhượng bộ quá nhiều cho Trung Hoa và làm hỏng các nỗ lực để điều đình trực tiếp với Huế.  Chế độ bảo hộ là một vấn đề sẽ được giải quyết một cách trực tiếp giữa Pháp và Việt Nam mà không cần quan tâm đến các ý muốn của Trung Hoa. 73  Một lần nữa, ông tại khẳng định ý kiến của ông rằng vũ lực là thiết yếu để làm nản lòng sự can thiệp của Trung Hoa và để cưỡng bách sự chấp nhận của vua Tự Đức về một chế độ bảo hộ của Pháp; các cuộc thương thảo cung cấp một khả tính cho sự triển hoãn, chứ không phải một giải pháp cho vấn đề Bắc Kỳ. 74
Sự chống đối bất kỳ sự thỏa hiệp nào với Trung Hoa cũng đến từ các quyền lợi kinh doanh Pháp tại chính Bắc Kỳ.  Victor Roques, một chủ tàu có các quyền lợi quan trọng trong các tài nguyên khoáng sản tiềm năng của Bắc Kỳ, đã viết cho chánh văn phòng bộ hải quân một bức thư phản đối lại bất kỳ sự thỏa hiệp nào không bảo toàn trọn vẹn Bắc Kỳ cho đến tận biên giới Trung Hoa.  Bất kỳ điều gì kém hơn có nghĩa là sự từ bỏ các miền hầm mỏ giá trị để chỉ “thu được ít mảnh ruộng trồng lúa gạo”, ông ta phàn nàn.  Ông đã thúc dục dân biểu Pháp đại diện cho Nam Kỳ, ông Blanscubé, nhấn mạnh đến số quân sĩ đủ để chiếm đóng toàn thể bắc Kỳ, và ông lập luận rằng không nhượng bộ nào cần phải đưa ra với Trung Hoa hay Việt Nam. 75  Một quyết định dứt khoát về việc chấp nhận hay bác bỏ thỏa hiệp Lý-Bourée bị triển hoãn bởi một cuộc khủng hoảng chính phủ.
Mặc dù ông chia sẻ sự nghi ngờ của Jauréguiberry về giá trị của thỏa hiệp Lý-Bourée, Duclerc từ chối không bác bỏ nó tức thời.  Ông hy vọng kéo dài các cuộc thương thảo và dùng thời gian có được để tăng cường các quân số trừ bị của Pháp mà không phải lo sợ về một cuộc tấn công bất ngờ của Trung Hoa. 76  Ông tính toán rằng chính phủ của ông không đủ mạnh để yêu cầu một tín khoản mười triệu phật lăng từ Viện Dân Biểu.  Cuộc tranh luận gần đây về vấn đề Bắc Kỳ làm bộc lộ sự lung lay của nội các ông, và vào cuối tháng, Duclerc bị buộc phải từ chức do kết quả của các vấn đề quốc nội ít liên quan đến Bắc Kỳ.  Một chính phủ lâm thời, cầm đầu bởi Armand Fallières, được thành lập để thay thế nội các Duclerc.  Hậu quả của sự thay đổi chính phủ này là Jauréguiberry phải rời khỏi bộ hải quân lần sau cùng.  Bản thân chính phủ lâm thời đã chấm dứt khi Jules Ferry thành lập một nội các vào ngày 21 Tháng Hai với sự hậu thuẫn chính trị rộng rãi; nó đã chứng tỏ sẽ là một trong các chính phủ có nhiệm kỳ lâu dài hơn của Đệ Tam Cộng Hòa.
Mặc dù Jauréguiberry và Duclerc đã ra đi, các tiếng nói cho một chính sách xâm lấn vẫn kiên trì và không lâu được nghe thấy từ Charles Brun, viên Bộ Trưởng Hải Quân của Ferry.  Thống Đốc mới của Nam Kỳ, Charles Thomson, đã viết rằng một giải pháp dứt khoát cho Bắc Kỳ đòi hỏi hành động quân sự tức thì.  Một lực lượng bốn nghìn binh sĩ ngoài đoàn quân từ tàu Corrèze sẽ cho phép chiếm đóng các cứ địa chính tại Bắc Kỳ.  Đây là kế hoạch của Jauréguiberry được hâm nóng lại.  Thomson tuyên bố rằng ý kiến của người Pháp tại Nam Kỳ nhất trí ủng hộ sự can thiệp trên một quy mô sao cho bảo đảm được một chế độ bảo hộ của Pháp. 77  Cùng lúc, Rivière sốt ruột đã quyết định dùng vũ lực áp đặt vấn đề.  Sử dụng các quân mới tăng phái, ông bung ra khỏi nội phận của ông ta tại Hà Nội.  Các lực lượng của Lưu Vĩnh Phúc đe dọa cắt đứt lối tiếp cận của Pháp với biển, vì thế Rivière tràn ngập thành Nam Định, mang lại cho ông sự kiểm soát thủy lộ nằm bên dưới Hà Nội. 78  Rivière ước lượng rằng một lực lượng ba nghìn quân bổ túc sẽ đủ bảo đảm cho ông làm chủ toàn thể vùng châu thổ, và ông đã thúc dục rằng số tăng phái như thế cần được gửi sang.  Thomson hoàn toàn ủng hộ lời yêu cầu này và thúc dục chính phủ hãy gửi đoàn viễn chinh sang ngay dù các ngân khoản vẫn chưa được chấp thuận.  Bất kỳ sự trì hoãn nào cũng sẽ gây ra tai họa. 79  Ông đã thúc dục Rivière giữ vững sự phòng thủ trong khi chờ đợi sự đến nơi của quân số bổ túc.
Trong khi đó, chính phủ Ferry bác bỏ các cuộc thương thảo của Bourée với Trung Hoa.  Bộ Trưởng Ngoại Giao mới, Paul Challemel-Lacour, kết luận rằng bản thỏa hiệp cho phép Trung Hoa có quyền can thiệp vào các công chuyện của Bắc Kỳ, và hoạt động mậu dịch với Vân Nam không được bảo đảm.  Trong một phiên họp nội các ngày 5 Tháng Ba, nó đã quyết định bác bỏ một cách chính thức các lời tuyên xác của Trung Hoa tại Bắc Kỳ và, để đánh dấu sự không chấp thuận của chính phủ đối với thỏa ước Lý-Bourée, Bourée đã bị triệu hồi.  Với quyết định này, chính phủ Ferry giờ đây quay trở lại để cứu xét hành động quân sự tại Bắc Kỳ.  Như Billot, khi đó là giám đốc nha chính trị của Bộ Ngoại Giao, đã nhận định, “sự triệt thoái của các bộ đội Trung Hoa và sự khuất phục của chính phủ Việt Nam không thể nào đạt được nếu không có các sự dàn binh bố trí các lực lượng”. 80  Luận đề của Jauréguiberry giờ đây được ôm choàng bởi chính phủ Ferry, và một tuần sau đó, Challemel-Lacour biện hộ cho nhu cầu cần có một chính sách thuộc địa “đầy sinh lực” tại Thượng Viện Pháp.
Một cách khá lạ lùng, đại diện Pháp tại Trung Hoa khuyến khích sự kháng cự của Trung Hoa trước các đòi hỏi của Pháp.  Khi Bourée nhận được tin về sự triệu hồi ông, ông ta đã thông báo cho Lý Hồng Chương rằng chính phủ Trung Hoa nên tiếp tục sự can dự tích cực tại Việt Nam.  Trong một sự đề cập đến ông Roques, kẻ tìm kiếm sự kiểm soát trọn vẹn trên Bắc Kỳ, Bourée tuyên bố rằng chính phủ Pháp bị ảnh hưởng bởi các quyền lợi thương mại, nhưng nhân dân Pháp mong muốn né tránh chiến tranh.  Lời cố vấn này, cùng với tin tức về sự chiếm giữ Nam Định của Rivière, rõ ràng đã quyết định cho chính phủ Trung Hoa để chống lại các sự tiến quân hơn nữa tại Bắc Kỳ bằng sức mạnh quân sự. 81  Các lập trường cứng rắn hơn ở cả hai phía và các sự chuẩn bị chiến tranh đã vươn tới một tầm mức cao hơn.
Sự chiếm đóng Nam Định của Rivière đã sẵn khiến cho khả tính của một sự giải quyết hòa bình về Bắc Kỳ theo các đường hướng của thỏa hiệp Lý-Bourée trở nên bất khả thi.  Trong khi loan báo sự chiếm đóng Hòn Gay và Nam Định của ông ta, Rivière đã khoa trương rằng ông đã bổ túc “vùng Bắc Kỳ mỏ” vào “vùng Bắc Kỳ gạo” mà Pháp đã chinh phục trước đây, chính vì thế, tái cam đoan với người bạn và kẻ thân tín của ông ta, Victor Roques, rằng các mỏ dự trữ khoáng sản của Bắc Kỳ sẽ được cung cấp cho sự phát triển của Pháp. 82  Ông cũng tuyên bố rằng ông đã cưỡng đặt vấn đề Bắc Kỳ đến nỗi chính phủ không thể trở lùi được. 83  Tuy thế, các viên chức Pháp lo ngại rằng sự xung động của Rivière khiến sự giao chiến xảy ra quá sớm.  Bộ Trưởng Hải Quân đã ra lệnh cho Rivière phải né tránh sự đụng độ với các lực lượng Trung Hoa hay với Quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc.  Các cuộc tấn công vào Bắc Ninh và Sơn Tây, nơi có các đơn vị Trung Hoa và Việt Nam đáng kể tập hợp, đã bị hoãn từ bốn đến sáu tuần lễ. 84  Chính phủ không thể đưa ra lời yêu cầu xin cấp ngân khoản trước ngày 19 Tháng Tư, Brun cảnh cáo, và ông nghi ngờ rằng các ngân khoản này sẽ được chấp thuận trước ngày 10 Tháng Năm.  Ba chiếc tàu, Mytho [Mỹ Tho], Annamite, và l’Atlante đã được chuẩn bị để rời cảng Toulon và Brest với hai nghìn một trăm binh sĩ ngay sau khi các ngân khoản đầu tiên được chấp thuận, nhưng ngay với sự chấp thuận tức thời các lực lượng tăng phái này sẽ không đến được Hà Nội cho đến đầu Tháng Bẩy. 85  Trong khi đó, Đô Đốc Meyer đã được lệnh tiến vào hải phận Bắc Kỳ với các chỉ thị để cung cấp cho Rivière sự ủng hộ tòan diện trong trường hợp khẩn cấp.
Cùng lúc, bộ hải quân đã phục hồi, với hình thức giảm bớt chút ít, dự án của Jauréguiberry cho một sự chiếm đóng quân sự Bắc Kỳ.  Trong Tháng Ba, một văn thư khuyến cáo sự chiếm giữ chín địa điểm chiến lược tại Bắc Kỳ, kể cả Móng Cáy [Moncay trong nguyên bản, chú của người dịch] tại biên biên Trung Hoa.  Báo cáo này đã ước lượng rằng một nghìn hai trăm binh sĩ bổ túc sẽ cần có cho việc đóng các đồn quân sự tại Bắc Kỳ. 86  Sự ước lượng này mau chóng được mở rộng lên tới bốn nghìn binh sĩ, và Bộ Trưởng Ngoại Giao, Challemel-Lacour, đã sử dụng con số này trong việc khuyến cáo hành động tại Bắc Kỳ.  Vào ngày 26 Tháng Tư, chính phủ đưa ra một lời yêu cầu lên Viện Dân Biểu số tiền năm triệu rưỡi phật lăng để trang trải cho các phí tổn của ba nghìn binh sĩ Âu Châu và một nghìn lính đánh thuê gốc Việt, cùng với chín tàu vũ trang bổ túc, cho cuộc viễn chinh Đông Dương.  Viện Dân Biểu đã chấp thuận lời yêu cầu bằng số phiếu 351 trên 48.  Sau sự tu chính tại Thượng Viện, nó đã được trả về cho sự chấp thuận chung quyết, nhất trí vào ngày 26 Tháng Năm.  Lời loan báo gây xúc động mạnh về vụ chặt đầu Rivière bởi bàn tay của Quân Cờ Đen ngày 19 Tháng Năm đã mang âm vang yêu nước và xúc cảm cho quyết định vừa được lấy.  Trước khi tin tức về cái chết của Rivière về tới Paris, chính phủ Pháp đã chấp thuận ý tưởng và kinh phí cho một cuộc chinh phục quân sự Bằc kỳ, tiến hành một chính sách mà Jauréguiberry đã đề nghị lần đầu trong năm 1879 và đã thuyết phục Freycinet chấp nhận trong năm kế đó.  Các ngân khoản và kích thước của cuộc viễn chinh có phần nào ít hơn sự khuyến cáo của Jauréguiberry, nhưng nó là một bước tiến quyết định tiến tới sự can thiệp quân sự.
Không chỉ kinh phí của cuộc chinh phục quân sự được chấp nhận, mà cả sự rủi ro của chiến tranh cũng được nhìn nhận là khả hữu và không thể tránh khỏi.  Các báo cáo của Bourée, kẻ vẫn còn ở Trung Hoa chờ đợi người sang thay thế, giờ đây đã nêu rõ ý định của Trung Hoa.  Kinh lược sứ (viceroy) tại Quảng Tây đã chỉ định Tướng Feng Tzu-ts’ai là tư lệnh quân đội Trung Hoa tại Bắc Kỳ, nơi mà, theo lời cảnh cáo của Bourée, một tổng số quân lên tới khoảng một trăm năm mươi nghìn binh sĩ được báo cáo. 87  Cho tới lúc này, các sự chuẩn bị chiến tranh của Trung Hoa phần lớn được đảm trách bởi các viên chức cấp tỉnh tại Quảng Tây và Quảng Đông là các kẻ đã thúc dục chính phủ Đế Triều đáp ứng với sự đe dọa của Pháp.  Sự bác bỏ của Pháp bản thỏa ước Lý-Bourée đã thúc đẩy Bắc Kinh đến chỗ hành động.  Vào đầu Tháng Tư, chính phủ Trung Hoa tra hỏi về các số quân tăng phái của Pháp tại Việt Nam.  Chính phủ Pháp đã trả lời rằng các hành động của Pháp xảy ra trong khuôn khổ các điều khoản của hiệp ước 1874. 88 Câu trả lời này đã không làm yên tâm các nhà lãnh đạo Trung Hoa là các kẻ đã ra lệnh một sự tiến bước quân sự nhiều hơn vào Bắc Kỳ và phái các tàu chiến bổ túc vào hải phận Việt Nam. 89  Bourée đã cảnh cáo chính phủ của ông về các sự nguy hiểm của chiến tranh, nhưng vào lúc này Paris đã cương quyết một cách vững chắc để gửi một đoàn viễn chinh sang và cưỡng hành “các quyền hạn” của hiệp ước 1874. 90  Bộ Trưởng Hải Quân cam đoan với Rivière rằng vị thế của ông ta không bị đe dọa một cách quá đáng, nhưng như một sự phòng ngừa, ông ta đã ra lệnh cho hạm đội hải quân Pháp ngăn chặn bất kỳ mưu toan nào của Trung Hoa để gửi quân tăng phái vào Bắc Kỳ bằng đường biển. 91
Lời hứa hẹn mang lại ít sự yên tâm cho Rivière, kẻ đã báo cáo các lực lượng đông đảo của Trung Hoa và Quân Cờ Đen tập họp gần Bắc Ninh và ngay tại vùng phụ cận của chính Hà Nội.  Mạnh bạo hơn bởi sự đến nơi của hai đại đội thủy quân lục chiến từ Nam Kỳ, Rivière đã quyết định thử thách sự táo tợn gia tăng và, như ông ta nhìn, sự cao ngạo của các lực lượng của Lưu Vĩnh Phúc. 92  Vào ngày 19 Tháng Năm, ông tấn công Quân Cờ Đen bên ngoài cổng thành Hà Nội và bị hạ sát trong cuộc trận đánh gần nơi mà Garnier đã ngã gục gần một thập niên trước đó.  Lần này, không giống năm 1874, chính phủ từ chối không trở lui khỏi một sự giao chiến quân sự cách xa hơn sáu nghìn dặm với mẫu quốc Pháp.  Sự tin tưởng của Le Myre de Vilers rằng Bắc Kỳ có thể giành thắng được “một cách hòa bình và tiệm tiến” và hy vọng của bộ ngoại giao rằng vua Tự Đức sẽ chịu phục tùng trước áp lực ngoại giao đã nhường bước cho một sự hiện thực hóa rằng sức mạnh vũ trang thì cần thiết để phá vỡ sự kháng cự của Việt Nam và để thuyết phục Trung Hoa rằng Pháp đã bác bỏ mối quan hệ đặc biệt của Vương Quốc Trung Tâm với Việt Nam.  Để giành đoạt sự bảo hộ của mình, chính phủ Pháp đã lao vào một cuộc chiến tranh trên đất liền để chinh phục Bắc Kỳ; cuộc chinh phục này nhiều hơn một cuộc chiến tranh để thu đoạt các căn cứ hải quân, các đặc nhượng thương mại, và căn cứ yểm trợ [points d’appui, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch].
Cái chết của Rivière và lời kêu gọi ủng hộ của Ferry thường được nhìn như các biến cố quyết định trong sự chen lấn của Pháp để giành giựt Bắc Kỳ.  Đúng là Ferry đã đẩy ra trước, viện dẫn nhu cầu bảo vệ danh dự và uy tín dân tộc, và ông đã tán dương các sự giàu có thương mại sẽ giành đoạt được tại Bắc Kỳ.  Chính phủ của ông đã khởi sự một sự gia tăng các lực lượng Pháp lên tới khoảng ba mươi lăm nghìn binh sĩ vào lúc chiến tranh giành Bắc Kỳ kết thúc.  Song Ferry đã mang thi hành một chính sách mà Jauréguiberry đã đề xuất đầu tiên và đã vận động trong hai nhiệm kỳ tại bộ hải quân.  Vào lúc Jauréguiberry rời chức vụ trước ngày có nội các lần thứ nhì của Ferry, một sự cam kết về chính sách đế quốc quân sự tại Bắc Kỳ đã sẵn được thực hiện.  Mặc dù ông không còn giữ chức vụ, Jauréguiberry đã thắng lợi trong cuộc tranh luận.  Ông đã cung cấp chất xúc tác sinh tử cho chủ nghĩa đế quốc của phe cộng hòa giữa các năm 1879 đến năm 1883.  Jauréguiberry đã giành được tiếng tăm quân sự dưới thời Đệ Nhị Đế Chính (Second Empire), kể cả công tác tại Nam Kỳ, nhưng ông đã xây dựng sự nghiệp chính trị của mình dưới thời Đệ Tam Cộng Hòa với việc thuyết phục trước tiên Freycinet và sau đó Duclerc rằng Bắc Kỳ thì quan trọng cho các quyền lợi của Pháp tại Á Châu và rằng đáng trả giá cho một cuộc chinh phục quân sự.  Các áp lực được tạo ra bởi các tác nhân hung hăng tại diễn trường, chẳng hạn như Rivière, thì quan trọng.  Nhưng đã có các tiếng nói khác ủng hộ cho một chiều hướng dè dặt hơn, nổi bật là Le Myre de Vilers, và đã có các kẻ chống đối là chính sách để quốc cần phải được khắc phục, chẳng hạn như Grévy.  Trong khi các diễn tiến địa phương, trên hết là sự can thiệp của Trung Hoa, đã giúp định hình các thái độ và sự đáp ứng của Pháp đối với các biến cố tại vùng ngoại vi, quyết định chung cuộc để can thiệp nằm tại Paris, và ở đây Jauréguiberry là một kẻ bênh vực thường trực cho sự bành trướng giữa các năm 1879 đến 1883.  Jauréguiberry đã quyết tâm khắc phục sự kháng cự của Việt Nam và gạt sang một bên các sự tuyên xác của Trung Hoa.  Những gì Jauréguiberry loan báo là một kỷ nguyên của chính sách đế quốc quân sự cho nước Pháp có nghĩa sự chiếm đóng và, nếu cần, các chiến dịch chứ không phải chỉ có chính sách ngoại giao bằng tàu vũ trang.
Về các động lực của Jauréguiberry, ông đã sử dụng các lập luận kinh tế, các nhu cầu chiến lược, các đòi hỏi của uy tín quốc gia, và sự tranh giành với các cường lực khác, chẳng hạn như Đại Anh Cát Lợi hay Trung Hoa, để biện minh cho sự can thiệp.  Đây là các lập luận bổ túc, chứ không cạnh tranh, để tán thành chính sách đế quốc quân sự.  Cuộc chinh phục Bắc Kỳ được nêu ra như cần thiết cho sự khẳng định sức mạnh của Pháp tại hải ngoại và để mang lại “trật tự” cho một Bắc Kỳ xáo trộn như một bước mở đầu cần thiết cho sự thống trị kinh tế và chính trị.  Sự can thiệp của Pháp, Jauréguiberry nhấn mạnh, là quan yếu để ngăn chặn “nạn cướp bóc’ của Lưu Vĩnh Phúc, để loại trừ “các sự né tránh” và “các nhược điểm” của vua Tự Đức, và để chấm dứt sự tuyên xác của Trung Hoa về một quyền lợi sinh tử trong các sự vụ của Việt Nam.  Các điều kiện địa phương – hay ít nhất sự nhận thức của Jauréguiberry về chúng – đã cung cấp một căn bản lý luận cho sự can thiệp.  Đàng sau các lập luận là một quyết tâm muốn khẳng định quyền lực của Pháp ở hải ngoại.  Các sự tế nhị của các quan hệ giữa chính quyền Việt Nam và Lưu Vĩnh Phúc hay tầm quan trọng của các sự ràng buộc cổ truyền giữa Trung Hoa và Việt Nam đối với Jauréguiberry không có nghĩa gì khác hơn các duyên cớ để thách thức các đòi hỏi của Pháp.  Sự trợ giúp của Trung Hoa cho Việt Nam trong các năm 1878-79 dẫn Jauréguiberry đến sự kết luận rằng sự can thiệp quân sự không thế tránh khỏi hay nếu bị trì hoãn lâu dài, sẽ gây tổn hại cho uy tín của Pháp tại Á Châu.  Bởi việc phủ nhận mối quan hệ triều cống giữa Việt Nam và Trung Hoa và gán cho vai trò của Lưu Vĩnh Phúc chỉ đơn giản là “quân thổ phỉ”, Jauréguiberry đã xác định cuộc khủng hoảng tại vùng ngoại vi theo một cung cách cốt để biện minh được cho sự can thiệp.  Bởi việc đặt định Pháp theo một đường hướng chinh phục quân sự Bắc Kỳ, ông cũng đã xếp đặt nước Pháp tiến tới một cuộc chiến tranh không tuyên chiến với Trung Hoa.  Chính chính sách này và một niềm tin rằng sự can thiệp vũ trang biện minh cho các rủi ro kinh tế và chính trị là điều mà Jules Ferry đã thừa kế; ông ta đã làm cú đẩy sau chót cho một sự chen lấn giành giựt mà Jauréguiberry đã khởi động./-             
 Colonies of the second French colonial empire (1830–1960)
published in Le Monde Illustré in 1891.
1.      Panorama of Lac-Kaï, French outpost in China: Toàn Cảnh Lào Cai, tiền đồn Pháp tại Trung Hoa.
2.      Yun-nan, in the quay of Hanoi: Tàu Vân Nam, tại bến sông Hà Nội
3.      Flooded street of Hanoi: Đường phố bị ngập lụt của Hà Nội
4.      Landing stage of Hanoi: Bãi đổ bộ hành khách và hàng hóa của Hà Nội
_____
CHÚ THÍCH:
       Kim Munholland là phó giáo sư về lịch sử tại Đai Học University of Minnesota.
       Tác giả xin cám ơn Quỹ McMillan và Phòng Các Chương Trình Quốc Tế (Office of International Programs) tại Đại Học University of Minnesota về các khoản trợ cấp để hỗ trợ cho việc nghiên cứu bài viết này.
1.  Câu phát biểu đầu tiên của luận đề là của các tác giả John Gallagher và Ronald Robinson, trong bài “The Imperialism of Free Trade”, Economic History Review, VI (1953), 1-15; được khai triển hơn nữa bởi cùng các tác giả trong bài “The Partition of Africa”, trong tạp chí The New Cambridge Modern History, XI: Material Progress and World Wide Problems, 1870-98 (Cambridge, 1962), 593-95; cũng xem D. K. Fieldhouse, Economics and Empire 1830-1914 (Ithaca, 1973), các trang 460-63, để có một sự phát biểu khác về lý thuyết “ngoại vi”; một cuộc thảo luận tuyệt hảo về “luận đề Robinson-Gallagher” và sự tranh cãi có thể được tìm thấy nơi phần giới thiệu quyển sách biên tập bởi Wm. Roger Louis, Imperialism: The Robinson and Gallagher Controversy (New York, 1976), các trang 2-51.
2. A. S. Kanya-Forster, “Myths and Realities of African Resistance”, trong Canadian Historical Association, Historical Papers Presented at the Annual Meeting (Ottawa, 1969), trang 198.
3. Ronald Robinson, John Gallagher, và Alice Deny, Africa and the Victorians: The Official Mind of Imperialism (London, 1961), rải rác; C. W. Newbury và A. S. Kanya-Forstner, “French Policy and the Origins of the Scramble for West Africa”, Journal of African History, X (1969), 274; C. M. Andrew, “The French Colonialist Movement During the Third Republic: The Unofficial Mind of Imperialism”, Transactions of the Royal Historical Society, XXVI (London, 1976), 143-66.
4. T. F. Power, Jules Ferry and the Renaissance of French Imperialism (New York, 1944), trang 161; Fresnette Pisani-Ferry, Jules Ferry et le partage du monde (Paris, 1962), trang 147.
5. Về vai trò của Jauréguiberry trong cuộc chen lấn giành giựt Phi Châu, xem: Newberry và Kanya-Forstner, “French Policy”, trang 274; A. S. Kanya-Forstner, The Conquest of the Western Sudan: A Study in French Military Imperialism (Cambridge, 1969), trang 64.
6. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân, November 9, 1870, Archives Nationales, Section d’Outre-Mer (từ giờ về sau viết tắt là ANSOM), Indochine A30(15).
7. Ella S. Laffey, “French Adventurers and Chinese bandits in Tonkin: The Garnier Affair in Its Local Context”, Journal of Southeast Asian Studies, VI (1975), 43.
8. Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Thống Đốc Nam Kỳ, Cochinchina, January 7, 1874, ANSOM, Indochine A30(19); cũng được in trong quyển của ông Dutreb (M. Bert), L’Amiral Dupré et la conquête du Tonkin (Paris, 1924), trang 98; và trong quyển của Georges Taboulet, La Geste franҫaise en Indochine, II (Paris, 1956), 738.
9. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, April 9, 1875, ANSOM A30(19).
10. Cùng người gửi đến cùng người nhận, September 21, 1875, cùng nơi dẫn trên; cũng xem Charles Fourniau, “La genèse et l’évolution de l’affaire du Tonkin”, Revue historique, CCXLVI (October-December 1971), 378.
11. “Memorandum on History of negotiations with Huế and the Tonkin Affair”, soạn thảo cho Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, December 1876, ANSOM, Indochine A00(13); cũng xem, Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, September 6, 1877, Archives, Ministère des Affaires Étrangères (từ giờ về sau viết tắt là MAE), Mémoires et Documents, Asie 34; được in trong MAE, Documents Diplomatiques, no. 66 (Livre Jaune), Affaires du Tonkin (1874-Décembre 1882), no. 24.
12. Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, April 19, 1875, cùng nơi dẫn trên, no. 8.
13. Lãnh Sự Pháp tại Hải Phòng gửi Thống Đốc Nam Kỳ, December 5, 1878, Livre Jaune, no. 38; cũng xem, Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, December 16, 1878, ANSOM, Indochine A30(33).
14. Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, January 9, 1879, MAE, Mémoires et Documents, Asie 35.
15. Bộ Trưởng Ngoại Giao gủi Sứ Thần Pháp tại Trung Hoa, July 25, 1878, Livre Jaune, no. 32.
16. Cùng người gửi đến cùng người nhận, May 30, 1877, Livre Jaune, no. 21.
17. Lãnh Sự Pháp tại Hà Nội gửi Thống Đốc Nam Kỳ, March 24, 1879, ANSOM, Indochine A30(31).
18. M. Raindre (Huế) gửi Thống Đốc Nam Kỳ, June 12, 1879, MAE, Mémoires et Documents, Asie 35.
19. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, April 8, 1879, ANSOM, Indochine A30(31).
20. Ella Laffey, “The Content of the Sino-Vietnamese Tributary Relationship in the Late Nineteenth Century”, bài viết chưa được ấn hành, trang 8.
21. Bộ Trưởng Hải Quân gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, June 18, 1879, MAE, Mémoires et Documents, Asie 35; cùng người gửi đến cùng người nhận, June 2, 1879, ANSOM, Indochine A31(31).
22. Báo cáo của Tiểu Ban về Bắc Kỳ (Report of Subcommittee on Tonkin), Bộ Hải Quân, July 4, 1879, ANSOM, Indochine A00(14).
23. Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, October 1, 1879, Livre Jaune, no. 53.
24. Cùng người gửi đến cùng người nhận, October 17, 1879, cùng nơi dẫn trên, no. 54.
25. “Memorandum for Council of Ministers”, November 1879, MAE, Mémoires et Documents, Asie 35.
26. Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, January 31, 1880, ANSOM, Indochine A30(38); Fourniau, “La genèse” trang 381.
27. “Memorandum of January 1880”, MAE, Mémoires et Documents, Asie 36.
28. France, Commission de publication des documents relatives aux origins de la guerre de 1914”.  Documents Diplomatiques franҫais, 1871-1914 (từ giờ về sau viết tắt là D. D. F.), 1 sér. Vol. iii; Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, May 28, 1880, #138; cùng người gửi đến cùng người nhận, May 24, 1880, ANSOM, Indochine B11(6).
29. Các sự thỉnh cầu đề ngày 25 Tháng Hai, 1 Tháng Tư, Tháng Năm, Tháng Tám, 1880, ANSOM, Indochine A30(38).
30. Xử Lý Thường Vụ Pháp tại Bắc Kinh gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, December 25, 1879, MAE, Mémoires et Documents, Asie 36, và Livre Jaune, no. 59.
31. Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, May 24, 1880, ANSOM, Indochine B11(6).
32. Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, July 24, 1880, Livre Jaune, no. 70.
33. Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, November 5, 1879, Livre Jaune, no. 72.
34. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, October 16, 1880, ANSOM, Indochine B11(6).
35. Cùng người gửi đến cùng người nhận, September 6, 1881, ANSOM, Indochine A30(50).
36. Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, August 18, 1881, Livre Jaune, no. 90.
37. Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Thống Đốc Nam Kỳ, Cochinchina, September, 1881, Livre Jaune, no. 93 (Annex).
38. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, September 27, 1881, ANSOM, Indochine A30(53).
39. Lloyd E. Eastman, Throne and mandarins: China’s Search for a Policy during the Sino-French Controversy 1880-1885 (Cambridge, Mass., 1967), các trang 51-57.
40. Sứ Thần Trung Hoa tại Pháp gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp, September 24, 1881, MAE, Mémoires et Documents, Asie 37; Livre Jaune, no. 92.
41. Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Sứ Thần Trung Hoa tại Pháp, January 1, 1882, Livre Jaune, no. 97.
42. Bản dịch “Bản Ghi Nhớ” (Memorandum) của Ching-hu, đề Tháng Hai 1882, MAE, Mémoires et Documents, Asie 39.
43. Eastman, Throne and mandarins, trang 54.
44. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Thương Mại và Thuộc Địa, MAE, Mémoires et Documents, Asie 37; Charles-Robert Agéron, “Gambetta et la reprise de l’expansion colonial”, Revue franҫaise d’histoire d’outre-mer, LIX (1972), 188.
45. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Thương Mại và Thuộc Địa, January 16, 1882 (điện tín), Livre Jaune, no. 99.
46. Có một số bằng chứng rằng Gambetta đã hoạch định một cuộc viễn chinh ồ ạt vào Bắc Kỳ khi ông lên nắm quyền vào cuối năm 1881, phản ảnh sự tin tưởng của ông ta rằng một chính sách thuộc địa mãnh liệt sẽ nâng cao uy tín của Pháp.  Vào ngày 17 Tháng Một, 1882, bộ trưởng hải quân, Đô Đốc Gougéard, đã đánh điện cho Le Myre de Vilers với các mệnh lệnh đình chỉ mọi hành động để chờ sự cập bến Sàigòn của Đô Đốc Pierre, được nghĩ sẽ đảm nhận việc chỉ huy một cuộc viễn chinh quan trọng; Bộ Trưởng Hải Quân gửi Thống Đốc Nam Kỳ, January 16, 1882, Livre Jaune, no. 100.  Tờ báo của Gambetta, La République franҫaisẹ từ lâu đã tán thành sự bành trướng ra Bắc Kỳ, và quyết định của Gambetta để phái Đô Đốc Pierre với một lực lượng đáng kể có thể là bước đầu tiên tiến tới sự bành trướng quân sự dưới sự bảo trợ của phe cộng hòa; William B. Cohen, “Gambettists and Colonial Expansion Before 1881: The République franҫaise”, French Colonial Studies, I (Spring 1977), 55-56.  Theo tác giả Agéron, một trong các cố vấn của Gambetta về hải quân và thuộc địa sự vụ là Đô Đốc Peyron, kẻ ủng hộ chính sách xâm lấn của Jauréguiberry; Charles-Robert Agéron, “Gambetta et la reprise de l’expansion colonial”, các trang 186-90.  Đô Đốc Gougéard về sau có ấn hành một tập tường thuật tuyên bố rằng các sự chuẩn bị cho cuộc viễn chinh quân sự của Đô Đốc Pierre vào Bắc Kỳ đã được thực hiện dưới thời chính phủ Gambetta, nhưng không có mệnh lệnh nào đề cập đến việc đó được xuất hiện trong các văn khố của các bộ chiến tranh, hải quân, hay bộ thuộc địa.  Một sự tường thuật đương thời khác xuất hiện trong quyển của Bernard Lavergne, Les deux présidences de Jules Grévy, 1879-1887: Mémoires de Bernard Lavergne (Paris, 1966), các trang 143, 149-50.  Lavergne có trích dẫn lời tuyên bố của Đô Đốc Galiber rằng Gambetta đã âm mưu một cuộc viễn chinh trên quy mô to lớn tại Bắc Kỳ trước khi đảm nhận chức vụ.  Bởi Lavergne đối nghịch với Gambetta, Jauréguiberry, và một chính sách bành trướng thuộc địa, bằng chứng của ông có thể có thiên kiến và sự hồi tưởng của Galiber, như tác giả Agéron đã chứng minh, có phần nào sai lạc.  Dù thế, có bằng chứng gián tiếp (circumstantial evidence) rằng Gambetta chủ định một chính sách xâm lấn hơn tại Bắc Kỳ.
47.  Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, March 16, 1882, Livre Jaune, no. 105.
48. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, May 2, 1882, ANSOM, Indochine A30(54).   
49. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Tư Lệnh Các Lực Lượng Pháp tại Bắc Kỳ (Rivière), March 2, 1882, MAE, Mémoires et Documents, Asie 38; Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, September 24, 1882, ANSOM, Indochine A30(55).
50. Xử Lý Thường Vụ Pháp tại Huế gửi Thống Đốc Nam Kỳ, May 12-14, 1882, cùng nơi dẫn trên; Fourniau, “La genèse”, trang 389.
51. Eastman, Throne and Mandarins, trang 55.
52. Sứ Thần Pháp tại Bắc Kinh gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, May 14, 1882, ANSOM, Indochina B11(8).
53. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Xử Lý Thường Vụ Pháp tại Huế, May 23, 1882, Livre Jaune, no. 121 (Annex 1).
54. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Tư Lệnh Các Lực Lượng Pháp tại Bắc Kỳ (Rivière), July 15, 1882, MAE, Mémoires et Documents, Asie 39.
55. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, July 17, 1882, cùng nơi dẫn trên.
56. Cùng người gửi đến cùng người nhận, July 17, 1882, ghi chú bên lề ANSOM, Indochine A30(54).
57. Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Chủ Tịch Hội Đồng và Bộ Trưởng Ngoại Giao, June 30, 1882, MAE, Mémoires et Documents, Asie 39.
58. Cùng người gửi đến cùng người nhận, September 8 và 12, 1882,  cùng nơi dẫn trên.  
59. Cùng người gửi đến cùng người nhận, October 12, 1882,  cùng nơi dẫn trên. 
60. Cùng người gửi đến cùng người nhận, October 15, 1882,  cùng nơi dẫn trên. 
61. Chủ Tịch Hội Đồng và Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, October 22 và 23, 1882, cùng nơi dẫn trên.
62. Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Chủ Tịch Hội Đồng và Bộ Trưởng Ngoại Giao, October 31, 1882, cùng nơi dẫn trên.
63. “Memorandum for Colonial Division”, Bộ Hải Quân và Thuộc Địa, November 7, 1882, ANSOM, Indochine A00(18).
64. Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, November 14, 1882, Livre Jaune, no. 139.
65. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, September 8, 1882, MAE, Mémoires et Documents, Asie 39.
66. Xử Lý Thường Vụ Pháp tại Huế gửi Thống Đốc Nam Kỳ, September 16, 1882, ANSOM, Indochine A30(55); Cùng người gửi đến cùng người nhận, September 30, 1882, MAE, Mémoires et Documents, Asie 39; Cùng người gửi đến cùng người nhận, January 18, 1883, ANSOM, Indochine A30(59).
67. Trong Tháng Mười Một, Lãnh Sự Pháp tại Hồng Kông báo cáo rằng hai mươi nghìn binh sĩ Trung Hoa đã tiến vào Bắc Kỳ từ mùa hè; Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, ANSOM, Indochine B11(7).
68. Tư Lệnh Pháp tại Bắc Kỳ (Rivière) gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, November 24, 1882, Archives de la Ministère de la Marine (từ giờ về sau viết tắt là Marine Arch.), BB4/1947.
69. Billot, L’Affaire du Tonkin (Paris, 1888), các trang 10-12; Lavergne, Mémoires, trang 96.
70. Billot, L’Affaire du Tonkin, các trang 13-17.
71. Sứ Thần Pháp tại Trung Hoa (Điện Tín) gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, December 5, 1882, Livre Jaune, no. 140; ANSOM, Indochina B11(10).
72. Tư Lệnh Pháp tại Bắc Kỳ (Rivière) gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, January 19, 1882, Marine Arch., BB4/1947.
73. Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, January 2, 1883, ANSOM, Indochine A30(58).
74. Cùng người gửi đến cùng người nhận, January 26, 1883, Livre Jaune, no. 165.
75. M. Roques gửi Thống Đốc Nam Kỳ cho [nhờ chuyển đến?] Đô Đốc Lespés, chánh văn phòng Bộ Hải Quân, January 14, 1883, ANSOM, Indochine A00(19); M. Roques gửi M. Blanscubé, dân biểu Nam Kỳ, February 22, 1883, cùng nơi dẫn trên; cùng xem, Taboulet, La Geste, II, 787-88.
76. Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, January 13, 1883, ANSOM, Indochine A30(58); Billot, Affaire du Tonkin, các trang 22-23.
77. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, February 24, 1883, Marine Arch., BB4/1947.
78. Tư Lệnh Pháp tại Bắc Kỳ (Rivière) gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, cùng nơi dẫn trên.
79. Cùng người gửi đến cùng người nhận, March 31, 1883, cùng nơi dẫn trên.  
80. Billot, Affaire du Tonkin, trang 38.
81. Eastman, Throne and Mandarins, các trang 67-68.
82. Tư Lệnh Pháp tại Bắc Kỳ (Rivière) gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, March 24, 1883, Marine Arch., BB4/1948; Dieter Broter, Franzosischer Imperialismus in Vietnam: Die koloniale Expansion und die Errichtung des Protectorates Annam-Tongking 1880-1885 (Zurich, 1971), các trang 131-32.
83. Rivière, thư ngày 8 Tháng Năm, 1883 gửi Bà Caillavet, được trích dẫn trong sách của Taboulet, La Geste, II, trang 794.
84. Thống Đốc Nam Kỳ gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, April 1, 1883, Marine Arch., BB4/1947; Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, April 3, 1883; Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Thống Đốc Nam Kỳ và Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Tư Lệnh Sư Đoàn Hải Quân Pháp (French Naval Division), April 4, 1883, Livre Jaune, no. 174 (và Annexes); Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Thống Đốc Nam Kỳ, April 6, 1883, Livre Jaune, no. 175; Tư Lệnh Pháp tại Bắc Kỳ (Rivière) gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, April 19, 1883, Marine Arch., BB4/1947.
85. Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Tư Lệnh Sư Đoàn Hải Quân Pháp (French Naval Division), April 27, 1883, Marine Arch., BB4/1946; Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Thống Đốc Nam Kỳ, April 6, 1883, và Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao, April 8, Livre Jaune, no. 174 và no. 177.
86. “Memorandum for the Minister”, Bộ Hải Quân và Thuộc Địa, March 1883, ANSOM, Indochine A00(18).
87. Đại diện Pháp tại Trung Hoa (lâm thời; pro tem) gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao (điện tín), May 3, 1883, ANSOM, Indochine B11(10), và Cùng người gửi đến cùng người nhận, May 13, 1883, Livre Jaune, no. 190.
88. Tổng Lý Nha Môn (Tsong-li Yamen) gửi Hầu Tước Tseng, Sứ Thần Trung Hoa tại London, April 2, 1883, Livre Jaune, no. 173; Henri Cordier, Histoire des relations de la Chine avec les puissances occidentals, 3 vols., (Paris, 1901-02), II, 374.
89. Eastman, Throne and Mandarins, các trang 71-72.
90. . Đại diện Pháp tại Trung Hoa (lâm thời; pro tem) gửi Bộ Trưởng Ngoại Giao (điện tín), April 16, 1883, Livre Jaune, no. 180; Bộ Trưởng Ngoại Giao gửi Đại Diện Pháp tại Trung Hoa (lâm thời; pro tem) April 27, 1883, Livre Jaune, no. 183.
91.Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa gửi Tư Lệnh Pháp tại Bắc Kỳ (Rivière), May 11, 1883, Marine Arch., BB4/1946.
92. Tư Lệnh Pháp tại Bắc Kỳ (Rivière) gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, May 10, 1883, Marine Arch., BB4/1948./-
_____  
Nguồn: Kim Munholland, Admiral Jauréguiberry and the French Scramble for Tonkin, 1879-83,  French Historical Studies, Spring79, Vol. 11, Issue 1,  các trang 81-107
*****
PHỤ CHÚ:
Sơ Lược Tiểu Sử của Jauréguiberry
Jean Bernard Jauréguiberry (sinh ngày 26 Tháng Tám 1815 – mất ngày 21 Tháng Mười 1887) là một đô đốc hải quân và chính khách Pháp.
       Bản quán tại Bayonne, Jauréguiberry gia nhập Hải Quân Pháp trong năm 1831.  Ông thăng cấp liên tục, trở thành trung úy trong năm 1845, trung tá trong năm 1856, và đại tá trong năm 1860.  Sau khi phục vụ tại Crimea và Trung Hoa, và là thống đốc tại Sénégal, ông được thăng làm phó đề đốc trong năm 1869.
       Ông đã phục vụ trên đất liền trong phần thứ nhì của cuộc chiến tranh Pháp-Phổ.  Ông có mặt tại Coulmiers, Villpion và Loigny-Poupry, với tư cách tư lệnh sư đoàn, và trong cuộc triệt thoái của Chanzy trên vùng Lemans, với tư cách tư lệnh một quân đoàn.
       Vào ngày 9 Tháng Mười Hai, ông được thăng làm phó đô đốc, và trong năm 1871, ông chỉ huy hạm đội tại Toulon; năm 1875 ông là thành viên của hội đồng luật hải quân sự vụ (council of admiralty), và trong Tháng Mười 1876, ông được bổ nhiệm làm tư lệnh hạm đội tuần cảnh vùng Địa Trung Hải.
       Tháng Hai năm 1879, ông trở thành Bộ Trưởng Hải Quân trong nội các Waddington, và vào ngày 27 Tháng Năm kê đó, được bầu làm một thượng nghị sĩ suốt đời.  Ông trở lại làm bộ trưởng hải quân trong nội các của Freycinet trong năm 1880.  Ông mất tại Paris trong Tháng Mười năm 1887.