20 tháng 2, 2012

TÁC ĐỘNG CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ MỚI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC VÀ TOÀN CẦU

                                                                   Subhash Kapila S

Tạp chí Quốc phòng của Mỹ ngày 1/2 đăng bài phân tích về “Tác động của Chiến lược quân sự mới của Mỹ đối với toàn cầu và khu vực’’ của Tiến sĩ Subhash Kapila, nhà phân tích các vấn đề chiến lược và quan hệ quốc tế thuộc Tập đoàn Phân tích Nam Á của Ấn Độ, trong đó cho biết ngày 5/1, tại Lầu Năm Góc, Tổng thống Mỹ Barack Obama công bố Chiến lược quân sự mới với nhan đề: “Duy trì sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ: Những ưu tiên cho quốc phòng thế kỷ 21″.
Chiến lược quân sự 2012 của Mỹ được coi là tài liệu chiến lược chi tiết trong thế kỷ 21 ra đời sau tài liệu đánh giá các thách thức chiến lược toàn cầu đang nổi lên thách thức vai trò lãnh đạo toàn cầu và siêu cường quân sự của Mỹ. Nó cũng được coi như một chính sách giải thích chiến lược mặc dù Mỹ áp dụng các biện pháp cắt giảm chi phí quân sự và tái cơ cấu lực lượng. Các nhân tố chính để Mỹ đề ra Chiến lược quân sự mới gồm:
- Trung Quốc và Iran trở thành “mối quan tâm chiến lược” của Mỹ trong năm 2012;
- Môi trường chiến lược đang thay đổi nhanh chóng ở châu Á-Thái Bình Dương và Trung Đông;
- Lực lượng Mỹ rút khỏi Irắc và thành công của Mỹ ở Ápganixtan cho phép Mỹ xem xét lại sức mạnh quân sự;
- Quốc hội Mỹ yêu cầu Chính phủ cắt giảm ngân sách quốc phòng 487 tỷ USD trong 10 năm tới.
Thực tế, Mỹ đang ở thời điểm bước ngoặt chiến lược năm 2012, do đó Mỹ cần có một tài liệu chiến lược chi tiết để chỉ đạo mọi hoạt động. Tài liệu đã chỉ ra các thách thức chiến lược của Mỹ trong năm 2012 và những năm tiếp theo như sau:
- Sự phát triển của các cường quốc mới ở châu Á, trong đó chủ yếu ám chỉ Trung Quốc;
- Những thay đổi lớn liên tiểp xảy ra ở Trung Đông;
- Các hoạt động gây mất ổn định của một số nước như Iran và Bắc Triều Tiên;
- Tình trạng phổ biến các loại nhiên liệu và vũ khí hủy diệt hàng loạt;
- Chủ nghĩa cực đoan bạo lực tiếp tục là mối đe dọa của Mỹ.
Suy cho cùng, mối đe dọa chiến lược hiện nay của Mỹ là Trung Quốc và Iran. Trung Quốc không hề che giấu các mối quan tâm chiến lược của họ để thách thức sức mạnh toàn cầu duy nhất của Mỹ. Trung Quốc đã tận dụng khoảng trống chiến lược được tạo nên trong thập kỷ qua ở châu Á-Thái Bình Dương khi Mỹ bị cuốn vào hai cuộc chiến tranh Irắc và Ápganixtan. Mỹ bắt đầu triển khai tiến trình điều chỉnh sự mất cân bằng chiến lược ở châu Á-Thái Bình Dương và khẳng định trong Chiến lược rằng Mỹ có ý định hành động mạnh mẽ hơn nữa, Bên cạnh đó, Iran hiện đang nổi lên như một cường quốc khu vực ở Trung Đông bất chấp các nỗ lực ngăn chặn của Mỹ và các nước đồng minh châu Âu. Iran cần được coi là một nhà nước có vũ khí hạt nhân, tuy khả năng sở hữu vũ khí hạt nhân của Iran có thể mới ở giai đoạn đầu. Cả Trung Quốc và Iran đã và đang tạo nện sức mạnh chiến lược thù địch chống Mỹ và các nước đồng minh khu vực của Mỹ, đồng thời có ý định xóa bỏ sự vượt trội chiến lược của Mỹ trên toàn cầu. Vì vậy, để đạt được mục tiêu chiến lược “Duy trì sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ” trong thế kỷ 21, Mỹ phải vô hiệu hóa mối đe dọa của Trung Quốc và Iran.
Trên cơ sở phân tích các tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng và các quan chức quân sự cấp cao khác của Mỹ, các chuyên gia cho rằng lựa chọn chiến lược hiện nay của Mỹ là: do cắt giảm lớn về quy mô lực lượng tác chiến của Lục quân và Lính thủy đánh bộ, Lầu Năm Góc đang từ bỏ kiểu Cơ cấu tổ chức lực lượng tác chiến và đánh thắng 2 cuộc chiến tranh lớn cùng một lúc. Nhận thấy điều này có thể gây hiểu lầm rộng rãi, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cho biết Mỹ sẽ duy trì khả năng tiến hành một số cuộc chiến tranh cùng một lúc. Để nhấn mạnh vấn đề, ông ta khẳng định Mỹ sẽ không chống lại các mối đe dọa đã từng tồn tại trong kỷ nguyên Chiên tranh Lạnh mà tổ chức lực lượng để tác chiến và đánh thắng các thách thức trong thế kỷ 21. Chương trình cắt giảm quy mô lực lượng của Lính thủy đánh bộ và Lục quân Mỹ cho thấy Mỹ sẽ không duy trì quy mô lực lượng lớn và các chiến dịch ổn định lâu dài trên các chiến trường như Irắc và Ápganixtan. Nhưng điều đó không có nghĩa Mỹ sẽ cắt giảm gần như toàn bộ quy mô lực lượng Lính thủy đánh bộ và Lục quân. Mục đích cắt giảm quy mô lực lượng này của Mỹ nhằm nâng cao sức mạnh và khả năng tác chiến của các đơn vị.
Các chiến lược quân sự trong tương lai của Mỹ sẽ lệ thuộc vào việc sử dụng sức mạnh tổng hợp của lực lượng Không quân, Hải quân và Lực lượng đặc nhiệm của quân đội Mỹ. Do đó, các lực lượng này không những không bị cắt giảm mà có thể còn được đầu tư lớn hơn nữa. Theo phương hướng này, Mỹ bắt đầu thúc đẩy và hoàn thiện “Học thuyết tác chiến trên không-trên biển” để thay thế “Học thuyết tác chiến trên bộ-trên biển” của Mỹ đang được NATO áp dụng. Để thực hiện chiến lược, Mỹ âm mưu dựa vào các nước đồng minh khu vực, đồng thời thúc đẩy và xây dựng các mối quan hệ đối tác chiến lược mới để thay thế lực lượng Mỹ trên tất cả các chiến trường, về những thay đổi chiến lược khu vực, Chiến lược quân sự mới của Mỹ đề ra những ưu tiên chiến lược dưới đây:
- Tăng cường sự hiện diện quân sự, các khả năng nâng cao sưc mạnh tác chiến và sức mạnh ngăn chặn ở châu Á-Thái Bình Dương;
- Chú trọng duy trì sự hiện diện và các khả năng quân sự của Mỹ ở
Trung Đông rộng lớn hơn;
- Cắt giảm và bố trí lại lực lượng quân sự ở châu Âu và khẳng định NATO tiếp tục là một “Liên minh hạt nhân” chừng nào các loại vũ khí hạt nhân còn tồn tại trên toàn cầu.
Nhưng Chiến lược quân sự năm 2012 của Mỹ có những tác động toàn cầu. Trước hết, cắt giảm quy mô lực lượng và những thay đổi chiến lược khu vực dẫn đến tư tưởng cho rằng Mỹ không còn khả năng duy trì vai trò lãnh đạo cũng như sức mạnh quân sự vượt trội trên toàn cầu. Nằm cường quốc: Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản và Ấn Độ đều nằm trong mối quan
hệ đối tác chiến lược ngày càng phát triển với Mỹ. Do đó, 5 cường quốc này không phải là mối đe dọa chiến lược đối với Mỹ. Với Nga, mặc dù đang khôi phục chiến lược nhưng Nga không có ý định và cũng chưa có đủ khả năng để thách thức sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ như trong kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh. Trung Quốc, cường quốc duy nhất có chương trình hiện  đại hóa quân sự chiến lược và sức mạnh chiến lược, đang có ý định thách thức vị thế bá chủ thế giới của Mỹ và tìm cách buộc Mỹ rút khỏi Đông Á. Do vậy Chiến lược quân sự mới của Mỹ không những có tác động toàn cầu mà còn ảnh hưởng đến sự lãnh đạo toàn cầu và sức mạnh quân sự vượt trội của Mỹ.
Bên cạnh đó, Chiến lược quân sự 2012 của Mỹ cũng gây nên những tác động khu vực, trong đó đặc biệt đối với châu Á-Thái Bình Dương và Trung Đông. Chiến lược này thể hiện rõ Mỹ có ý định tăng cường quy mô lực lượng, các khả năng nâng cao sức mạnh tác chiến và ngăn chặn ở châu Á-Thái Bình Dương. Do đó, cuộc đối đầu chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ ngày càng trở nên quyết liệt trong thế kỷ 21. Mặc dù chưa xuất hiện một cuộc xung đột vũ trang toàn diện nhưng một cuộc chiến tranh lạnh mang tính chiến lược sẽ xảy ra. Trung Quốc có thể đẩy mạnh chiến lược chính sách bên miệng hố chiến tranh truyền thống ở châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt ở Biển Đông. Nhưng thực tế, Trung Quốc không có nhiều đồng minh tự nhiên ở châu Á- Thái Bình Dương, ngoài Bắc Triều Tiên và Pakixtan. Trong khi đó, Mỹ xem xét lại và tăng thêm sức mạnh mới cho cơ cấu an ninh ở châu Á-Thái Bình Dương, ngoài việc thúc đẩy quan hệ với Việt Nam và Mianma. Tại Trung Đông, mặc dù không tăng cường sức mạnh quân sự như đã khẳng định, nhưng Mỹ tuyên bố sẽ tiếp tục duy trì quy mô lực lượng quân sự hiện nay trong khu vực. Nên nhớ, ở Trung Đông, bất chấp Thổ Nhĩ Kỳ và Arập Xêút giảm bớt mối quan hệ chiến lược của họ với Mỹ, các nước đồng minh châu Âu thường xuyên ở đó để lấp đầy khoảng trống quân sự. Ixraen sẽ tiếp tục là chỗ dựa vững chắc cho sức mạnh quân sự của Mỹ ở Trung Đông. Nhưng vấn đề- cần lưu ý lá, các cường quốc khu vực khác ở châu Á-Thái Bình Dương và Trung Đông sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cuộc đối đầu giữa Mỹ với Trung Quốc và Iran. Thực tế, Trung Quốc đã sử dụng Iran như một mũi nhọn phản chiến lược chống Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương và Trung Đông.
Tóm lại, tất cả các đánh giá chiến lược sẽ sai lầm nếu cho rằng cả giảm ngân sách quốc phòng và quy mô lực lượng sẽ làm giảm vị thế là nước lãnh đạo toàn cầu và làm mất vị thế siêu cường quân sự của Mỹ. Sức mạnh toàn cầu của Mỹ chắc chắn không giảm. Mặc dù không chính thức và thông qua các phương tiện truyền thông, hiện nay Trung Quốc đang đặt câu hỏi làm sao Mỹ có thể duy trì vai trò lãnh đạo toàn cầu bằng một nên kinh tế yếu kém? Câu trả lời nằm trong thực tế ở châu Á-Thái Bình Dương, hiện nay nhiều nước đang hợp tác với Mỹ vì nhận thấy mối đe dọa của Trung quốc. Trung Quốc không thể bảo đảm chiến lược hoặc kinh tế cho các nước này, trong khi sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực là có thể.
***
TTXVN (Niu Đêli 10/2)
Thế giới đang thay đổi nhanh chóng với sự chuyển dịch cán cân quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc. Ấn Độ phản ứng như thế nào trước sự thay đổi này ? Theo nhà phân tích chính trị cao cấp Ấn Độ  C. Raja Mohan,Niu Đêli đang “ngủ yên” chẳng phán ứng gì Trong bài bình luận trên tờ “India Express ”, ông C. Raja Mohan viết về vấn đẽ này như sau:
Sau Khi Tổng thống Mỹ Barack Obama công bố “Chiến lược quân sự mới” báo chí Ấn Độ đã đăng nhiều bài có tiêu đề với nội dung như “Trung Quốc là mối đe dọa và Ấn Độ là một đối tác”. Cách đặt vấn đề đơn giản như vậy đã che giấu sự phức tạp của vấn đề. Trên thực tế chiến lược quốc phòng mới của Oasinhtơn phản ánh một sự thay đổi lớn về cấu trúc trong môi trường bên ngoài Ấn Độ. Xét về bản chất, chiến lược quốc phòng mới của Chính quyền Obama cho thấy sự suy giảm ảnh hưởng của Mỹ dường như không thể đảo ngược và sự nổi lên của Trung Quốc là không thể ngăn cản được.
Bề ngoài, khái niệm của Mỹ về tam giác chiến lược này không phải là mới. Trong thực tế, giới bình luận chính trị tại cả Mỹ và Ấn Độ đều cần sáng kiến hạt nhân dân sự năm 2005 của cựu Tổng thống Mỹ G. Bush một phần của nỗ lực mang tính chiến lược nhằm thúc đẩy Ấn Độ như một đối trọng tiềm năng với Trung Quôc.
Sáng kiến trên đã dẫn tới việc các đảng cánh tả đã rút ra khỏi liên minh trong chính phủ của Liên minh Tiến bộ Thống nhất cầm quyền nhiệm kỳ đầu (UPA-1), do đảng Quốc đại lãnh đạo, và cũng đã kết thúc giai đoạn bị cô lập kéo dài trong lĩnh vực hạt nhân của Ấn Độ như một cuộc thử thách địa chính trị.
Trong khi đó, Bắc Kinh đã nghi ngờ Ấn Độ đang vạch chiến lược ngăn chặn do Mỹ đứng đầu chống lại Trung Quốc, và cố gắng ngăn chặn việc thông qua sáng kiến hạt nhân dân sự trong nhóm cung cấp hạt nhân (NSG) năm 2008. Tuy nhiên, khi không thể làm được điều đó, Bắc Kinh đã tuyên bố ký một thỏa thuận hạt nhân với Pakixtan tương tự như thỏa thuận hạt nhân mà Mỹ đã ký với Ấn Độ.
Các cuộc tranh luận về hạt nhân của Ấn Độ giai đoạn 2005 đến 2008, có thể được coi là cuộc tranh cãi về chính sách đối ngoại “quyết liệt” nhất tại Niu Đêli kể từ thất bại của Trung Quốc năm 1962, đã cho thấy 3 yếu tô quan trọng về thế giới quan của Ấn Độ.
Một là’“sự ngờ vực” sâu sắc đối với Mỹ trong tất cả các chính đảng ở Ẩn Độ. Tại đó, Đảng Cộng sản Mácxít Ấn Độ (CPM) và Đảng Nhân dân Ấn Độ (BJP) đã cùng nhau “hợp tác” để chống lại một thỏa thuận mà Chính phủ Ấn Độ ủng hộ nhằm thắt chặt quan hệ hợp tác mạnh mẽ với Mỹ.
Hai là về những tác động chính trị trong nước của việc tiến gần hơn tới Oasinhtơn, trong đó, Đảng Quốc đại tỏ ra mơ hồ về sáng kiến hạt nhân của Thủ tướng M. Singh, do dự trong việc gạt bỏ CPM và xa lánh các khối cử tri khác.
Ba là những nỗi lo sợ cố hữu về sức mạnh của Mỹ, việc lặp lại cơn ác mộng trong cuộc tranh luận ở Ấn Độ về chương trình vũ khí chiến lược và Niu Đêli bắt đầu phụ thuộc vào Oasinhtơn.
Mặc dù sáng kiến hạt nhân cuối cùng đã được ký kết, sự e ngại của Ấn Độ về sức mạnh của Mỹ vẫn không biến mất. Điều này được phản ảnh bởi sự mâu thuẫn tiếp diễn trong tư tưởng ở Niu Đêli, đặc biệt trong Bộ Quốc phòng, về vấn đề tăng cường hợp tác an ninh và quốc phòng với Oasinhtơn.
Trong khi cách nói của Ấn Độ không thay đổi thì thế giới đã đổi khác trong những năm gần đây. Khi Thủ tướng M. Singh và cựu Tổng thống Mỹ G. Bush tuyên bố thỏa thuận hạt nhân năm 2005, nước Mỹ đang ở đỉnh cao của “một thế giới đơn cực”.
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã bao trùm nước Mỹ, nhanh chóng làm thay đổi sự thịnh vượng của họ. Quyết định cắt giảm gần 500 tỷ USD của Chính quyền Obama trong ngân sách chi tiêu quốc phòng trong thập kỷ tới là sự nhượng bộ trước thực trạng kinh tế Mỹ hiện nay.
Nếu Quốc hội Mỹ không đảo ngược kế hoạch của Nhà Trắng về cắt giảm thâm hụt ngân sách thì việc giảm chi phí quốc phòng thêm 500 tỷ USD sẽ được thực thi một cách tự động vào năm tới.
Tổng thống Mỹ Obama thông báo với người dân Mỹ về chiến lược quốc phòng mới của chính phủ, “chúng ta phải cải cách chính sách tài chính của nước Mỹ trong khuôn khổ và khôi phục sức mạnh của nền kinh tế về lâu dài”. Kể từ khi lên làm Tổng thống năm 2009, Tổng thống Obama đã cho rằng việc xây dựng nền kinh tế Mỹ phải được ưu tiên hơn những ý tưởng “hão huyền” về các cách tái cấu trúc nền kinh tế đã bị thất bại tại các nước trên thế giới.
Tổng thống Obama đã kết thúc sự chiếm đóng Irắc và sẽ kiên quyết rút lực lượng quân sự của Mỹ tại Ápganixtan năm 2012, và Quân đội Mỹ sẽ kết thúc vai trò tại nước này vào năm 2014.
Nói một cách đơn giản, thời đại “phiêu lưu” quân sự của Mỹ đã qua. Trong khi nước Mỹ vẫn sẽ duy trì sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới, ông Obama đã ra lệnh cắt giảm lực lượng quân đội Mỹ, giảm bớt các tham vọng địa chính trị, và giảm các sứ mệnh quân sự mà Mỹ có thể thực hiện ở bất kỳ thời điểm nào.
Trong khi Lầu Năm Góc chuẩn bị cho một thời đại “thắt lưng buộc bụng”, những ưu tiên trong chính sách của Chính quyền Obama là giảm sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu, tránh các cuộc chiến tranh rất tốn kém như chiến tranh tại Irắc và Ápganixtan, điều chỉnh chiến lược quay trở lai châu Á – Thái Bình Dương nhằm đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Nếu nước Mỹ đã coi thường những thách thức từ Trung Quốc tại thời kỳ đỉnh cao sức mạnh của Mỹ trong thập kỷ qua, thì hiện nay, Oasinhtơn đang phải “vật lộn” điều chỉnh chiến lược để đối phó với việc Bắc Kinh gia tăng sức mạnh quân sự tại châu Á ở thời điểm nước Mỹ đang trong thời kỳ “yếu kém nhất” kể từ cuộc Chiến tranh thế giới thứ Hai.
Các cuộc tranh luận nội bộ tại Oasinhtơn và Bắc Kinh là về cùng một chủ đề – cán cân quyền lực đang thay đổi nhanh chóng tại châu Á giữa Mỹ và Trung Quốc. Trong khi tại Oasinhtơn và Bắc Kinh người ta đang tranh luận mạnh mẽ và sâu sắc về ý nghĩa của sự chuyển dịch quyền lực này đối với các chiến lược quốc gia của nước họ, phần lớn các nhà hoạch định chính sách tại Niu Đêli hoặc không nhận thức được “hoàn cảnh thuận lợi” hay hoàn toàn không muốn đối mặt với các tác động của sự suy giảm ảnh hưởng của Mỹ và sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Giới tinh hoa Ấn Độ vốn cảm thấy rất dễ chịu với sự lãnh đạo của Mỹ sẽ sớm nhận ra sự suy yếu của Mỹ có thể gây ảnh hướng lớn hơn đến an ninh của mình. Niu Đêli cũng có thời gian dài ảo tưởng về sự ngang bằng nào đó với Trung Quốc.
Quả thực, Ấn Độ đã ngang bằng với Trung Quốc trong những năm 1990. Tuy nhiên, kể từ đó, Trung Quốc đã nhanh chóng vượt Ấn Độ trong tất cả các tiêu chí sức mạnh quốc gia trong hai thập kỷ qua.
Sự suy giảm của Mỹ, sự nổi lên của Trung Quốc và cán cân quyền lực đang thay đổi giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ tác động tới tất cả các khía cạnh an ninh quốc gia của Ấn Độ trong những năm sắp tới. Liệu Oasinhtơn hung hăng có thể tiến hành một cuộc chiến tranh lạnh mới với Bắc Kinh hay sẽ thu mình lại để làm cho Trung Quốc hài lòng, Ấn Độ sẽ cảm thấy bất an sâu sắc về chiến lược.

Tuy nhiên, vấn đề là ai, cái gì có thể đánh thức giấc ngủ của “Kumbhakarna” (nhân vật khổng lồ huyền thoại trong sử thi Ramayana của Ấn Độ cổ được mô tả có giấc ngủ say ghê gớm và chí thức giấc khi có 1.000 con voi đi qua đẫm lên) ở Niu Đêli?./.

19 tháng 2, 2012

TRỊNH CĂN – BẬC CHÚA VĂN VÕ SONG TOÀN

                                                                      Nguyễn Thị Ngân

Trịnh Căn (1633-1709) là vị chúa Trịnh thứ năm thời Lê Trung hưng. Ông là con trưởng của chúa Trịnh Tạc (1606-1682), quê làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Trịnh Căn sinh ra và lớn lên vào thời chiến tranh ác liệt giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn. Trong gần nửa thế kỷ, từ năm 1627 đến 1672, đã diễn ra 7 lần đánh nhau giữa quân họ Trịnh và quân họ Nguyễn, trong đó họ Trịnh chủ động tấn công 6 lần vào các năm 1627, 1633, 1643, 1648, 1661-1662 và 1672; họ Nguyễn đem quân đánh trước một lần duy nhất và là lần đánh nhau lâu nhất, suốt trong 6 năm, từ 1655 đến 1660. Trịnh Căn trực tiếp tham chiến kể từ trận đánh Trịnh - Nguyễn lần thứ năm. Bấy giờ bảy huyện ở phía nam sông Lam là các huyện Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, Thanh Chương đều thuộc về họ Nguyễn. Tháng 9 năm Ất Mùi (1655), Thanh Đô vương sai con là Trịnh Tạc vào Nghệ An làm thống lĩnh để chống giữ với quân họ Nguyễn, nhưng vì bấy giờ tàn dư họ Mạc quấy rối ở Cao Bằng nên Trịnh Tạc được lệnh phải rút về Bắc để lo đánh dẹp, em là Trịnh Toàn được điều vào làm thống lĩnh trấn thủ đất Nghệ An. Trịnh Tạc vì nghi ngờ Trịnh Toàn có ý tranh ngôi liền sai con cả là Thái bảo Tín quốc công Trịnh Căn đem quân vào Nghệ An, vừa để tăng viện chống quân Nguyễn, vừa để phòng ngừa biến loạn. 

Tháng 4 năm Đinh Dậu (1657), chúa Trịnh Tráng mất, Trịnh Tạc lên ngôi liền triệu Trịnh Toàn về kinh, lấy cớ không chịu tang cha, giam vào ngục rồi giết đi, binh quyền ở Nghệ An giao cho Trịnh Căn. Tháng 6 năm ấy, Trịnh Căn chia quân làm 3 đạo tiến đánh tướng nhà Nguyễn là Tống Hữu Đại ở làng Nam Hoa thuộc huyện Thanh Chương (Nghệ An). Quân Nguyễn có người báo nên phòng bị trước, quân Trịnh bị thua phải rút về bờ bắc sông Lam. Trước thế địch mạnh, Trịnh Căn chủ trương đánh nhỏ, củng cố lực lượng để chờ thời cơ... Đến tháng 9 năm Canh Tý (1660), Trịnh Căn chia quân đánh cứ điểm Lận Sơn, Nguyễn Hữu Dật thua chạy rút về Khu Độc. Còn đạo quân Trịnh đánh nhau với quân Nguyễn ở làng Tả Ao, tuy tướng Mẫn Văn Liên tử trận nhưng Nguyễn Hữu Tiến phải lui về đóng ở Nghi Xuân. Tháng 11 năm ấy, lợi dụng sự bất hòa của các tướng Nguyễn, Trịnh Căn chia quân đánh ở huyện Nghi Xuân và huyện Thiên Lộc. Quân Nguyễn thua chạy, quân Trịnh từ đó lấy lại 7 huyện ở Nghệ An. Nguyễn Hữu Tiến buộc phải rút quân về Nam Bố Chính nhưng không báo cho Nguyễn Hữu Dật biết. Trịnh Căn thừa thắng điều quân sang sông đánh đồn Khu Độc, Nguyễn Hữu Dật phải dùng kế nghi binh để đem quân chạy, quân Trịnh lấy lại được Bắc Bố Chính. Thế là toàn bộ đất đai bị mất năm Ất Mùi (1655) được thu về. Sau chiến thắng vang dội này, Trịnh Căn được phong làm Khâm sai tiết chế thủy bộ chư quân, Thái úy, Tuyên Quốc công. Tháng 2 năm Tân Sửu (1661), Trịnh Căn trở về Thăng Long, để Đào Quang Nhiêu ở lại trấn thủ đất Nghệ An kiêm coi châu Bắc Bố Chính. Tháng 10 năm ấy, chúa Trịnh Tạc lại cử đại binh đem vua Lê Thần Tông vào đánh chúa Nguyễn, sai Trịnh Căn làm thống lĩnh cùng các tướng vượt sông Gianh. Nguyễn Hữu Dật trấn thủ Nam Bố Chính chia quân đắp lũy giữ vững mọi nơi, quân Trịnh đánh mãi mấy tháng không được, đến tháng 3 năm Nhâm Dần (1662), Trịnh Tạc phải thu quân rước vua Lê về Bắc. Tháng 9 năm Đinh Mùi (1667), chúa Trịnh Tạc lại đem quân đi đánh Mạc Kính Vũ ở Cao Bằng, sai Tiết chế Trịnh Căn thống đốc các quân. Mạc Kính Vũ nghe tin đại quân đến liền bỏ chạy sang nhà Thanh. Tháng 5 năm Nhâm Tý (1672), chúa Trịnh Tạc lại cử binh nam tiến, lấy Trịnh Căn làm Nguyên soái thủy quân. Quân Trịnh đánh thành Trấn Ninh mãi không được phải rút về Bắc Bố Chính. Tháng 12, Trịnh Căn bị ốm không thể cầm quân, chúa Trịnh Tạc bèn sai Lê Thì Hiến ở lại trấn thủ Nghệ An rồi rút quân về Thăng Long. Từ đây hai bên hưu chiến, lấy sông Gianh làm phân giới Bắc Nam. 

Trịnh Căn ở ngôi chúa trong 27 năm, từ 1682 đến 1709. Tháng 7 năm Giáp Dần (1674), Trịnh Căn được tiến phong làm Nguyên soái Điển Quốc chính Định Nam vương. Tháng 8 năm Nhâm Tuất niên hiệu Chính Hòa thứ 3 đời vua Lê Hy Tông (1682), Tây vương Trịnh Tạc mất, Trịnh Căn lên thay.Tháng tư năm Giáp Ngọ niên hiệu Chính Hòa thứ 4 (1684), Trịnh Căn được tiến phong làm Đại nguyên soái tổng quốc chính, thượng thánh phụ sư thịnh công nhân minh uy đức Định vương. Đây là thời kỳ đất nước tương đối ổn định sau nửa thế kỷ chiến tranh binh lửa với họ Nguyễn ở phương nam và dẹp yên dư đảng họ Mạc ở phương bắc, chúa Trịnh Căn chú tâm củng cố bộ máy cai trị Đàng Ngoài nhằm ổn định xã hội trên cơ sở lấy dân làm gốc. Về chế độ quan lại, tiến hành cải cách việc thuyên bổ, khảo hạch quan chức và quy định lề lối làm việc của hàng ngũ quan lại. Tháng 12 năm Giáp Tý (1684), Trịnh Căn ra lệnh khảo sát trong các quan xem ai biết thương yêu dân mới được dân bầu cử lên và được xét thăng chức. Tháng 8 năm Ất Sửu (1685) định lại phép khảo xét công trạng quan lại, thăng thưởng, truất giáng tùy theo từng loại. Tháng 7 năm Tân Mùi (1691) khảo xét các quan trong ngoài... 

Bên cạnh việc chỉnh đốn bộ máy quan lại, chúa Trịnh Căn đề cao pháp luật, giữ nghiêm phép nước để thực hiện công bằng xã hội và chăm lo ổn định đời sống nhân dân. Tháng 4 năm Giáp Tý (1684) định thành luật lệnh cho Hiến ty các xứ hàng năm rà soát tình hình đói khổ bệnh tật của dân, cuối năm tập hợp tâu lên. Tháng 10 năm Đinh Mão (1687), chúa sai quan kinh sư đi các nơi xem thế đất, làm guồng nước để tưới ruộng, xét việc khoan giảm và xá thuế. Tháng 7 năm Giáp Tuất (1694), ra lệnh cho quan châu, huyện làm sổ ghi chép về địa giới, núi sông, khe suối, ruộng đất, chùa miếu, chợ búa, bến đò, đường xá... của từng địa phương để quản lý hành chính. Tháng Giêng năm Ất Hợi (1695), xứ Thanh Hoa nước lớn, dân đói kém, phát 1 vạn quan tiền kho chẩn cấp, lại sai giảm tô thuế, hoãn việc xây cất. Tháng Giêng năm Quý Mùi (1703), hạn hán đói kém, xá thuế thân cho xứ Thanh Hoa, lại xuất tiền bạc cấp cho dân nghèo đói trong kinh thành...
Về quan hệ ngoại giao với nhà Thanh, chúa Trịnh Căn bằng nhiều nỗ lực đã buộc nhà Thanh phải trả lại một số thôn ấp của ta bị thổ ty nhà Thanh xâm chiếm khi họ Trịnh còn mải vào cuộc chiến tranh với họ Nguyễn, nhưng chưa được bao nhiêu. Như tháng 5 năm Mậu Thìn (1688), triều đình gửi thư cho nhà Thanh, tranh biện về việc đất biên giới ba châu Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ bị thổ ty châu Khai Hóa nhà Thanh xâm chiếm. Tháng 10 năm Kỷ Tỵ (1689), sai quan đi hội khám địa giới châu Lục Bình, Lạng Sơn mà sau đó lại bị thổ ty châu Tư Lãng nhà Thanh lấy mất. Sứ bộ năm Canh Ngọ (1690) sang tuế cống nhà Thanh, đồng thời tâu việc các thôn, động của các châu Bảo Lộc, Vị Xuyên, Thủy Vĩ, Quỳnh Nhai của Đại Việt bị thổ ty Mông Tự, phủ Khai Hóa nhà Thanh xâm chiếm. Sứ bộ năm Đinh Sửu (1697) sang tuế cống nhà Thanh lại tâu việc biên giới Hưng Hóa, Tuyên Quang nước ta bị thổ ty Vân Nam nhà Thanh xâm chiếm. Tháng 4 năm Kỷ Mão (1699), sai quan đi kinh lý vùng đất biên giới Tuyên Quang... 

Trong việc lập người kế nghiệp, chúa Trịnh Căn gặp khá nhiều trắc trở. Năm Giáp Tý (1684), lấy con thứ là Bách làm Tiết chế thủy bộ chư quân thay cho con trưởng là Vịnh chết sớm. Trịnh Bách được phong làm Thái úy Khiêm Quốc công, mở phủ riêng coi chính sự. Tháng 2 năm Mậu Thìn (1688), lấy cháu trưởng là Bính (con của Vịnh) làm Tiết chế thủy bộ chư quân thay cho Trịnh Bách đã chết. Trịnh Bính được phong làm Thái úy Tấn Quốc công, mở phủ Dực Quốc. Tháng Giêng năm Quý Mùi (1703), lấy chắt là Cương (con trưởng của Bính) khi vừa 18 tuổi làm Tiết chế thủy bộ chư quân thay cho Trịnh Bính đã chết. Trịnh Cương mở phủ Lý Quốc. Việc truyền ngôi cho dòng đích được các quan đại thần như Nguyễn Quý Đức và Đặng Đình Tướng ủng hộ, nhưng con trai của Tiết chế Trịnh Bách đã mất là Trịnh Luân và Trịnh Phất làm phản mưu giết Trịnh Cương vì cho rằng mình có quyền nối ngôi, bởi vậy chúa Trịnh Căn ra lệnh cho quan lại xét xử và giết đi.
Về văn hóa - giáo dục, chúa Trịnh Căn là người coi trọng học vấn. Ông cho chấn chỉnh và thiết lập lại việc học hành thi cử từ cấp huyện, châu đến Quốc Tử Giám. Bắt đầu sai quan trọng thần kiêm lĩnh Quốc Tử Giám; cho các thầy giáo được ở trong nhà Giám để có thời gian giảng dạy giám sinh. Định ra quy chế thi cử nghiêm ngặt, đồng thời khôi phục thể văn thời Hồng Đức chuộng sự hồn hậu, tao nhã, sát thực, thay cho sự khuôn sáo, trùng lặp từ Trung hưng về sau. Tổ chức khảo thi các bậc kỳ cựu có tài ở nhà Quốc học; lại sai phúc khảo học trò các khoa thi hương; cho giáng chức, biếm chức, bãi chức và thậm chí xử tội chết những quan lại vi phạm quy chế thi cử... Trong 27 năm chấp chính, chúa Trịnh Căn mở được 9 khoa thi Hội và thi Đình; lấy đỗ được 94 Tiến sĩ, trong đó có nhiều bậc hiền tài như Nguyễn Đăng Đạo, Vũ Thạnh, Nguyễn Danh Dự, Hà Tông Mục, Nguyễn Mậu Áng, Lê Anh Tuấn... Dưới thời Trịnh Căn có nhiều bậc danh thần nghĩa sĩ được trọng dụng như Nguyễn Danh Nho, Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Quý Đức, Đặng Đình Tướng... Chúa Trịnh Căn cũng là người kế tục xứng đáng các triều đại trước trong việc làm quốc sử. Ông sai Lê Hy và Nguyễn Quý Đức biên soạn sách Bản kỷ tục biên từ vua Lê Huyền Tông (1633-1671) đến vua Lê Gia Tông (1672-1675), tiếp theo phần do Phạm Công Trứ biên soạn từ vua Lê Trang Tông (1533-1548) đến vua Lê Thần Tông (1649-1662) trong bộ sách gọi là Quốc sử thực lục; đồng thời hoàn thành việc khắc in bộ Quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư vào năm Chính Hòa thứ 18 đời vua Lê Hy Tông (1697) do sử gia các triều đại quân chủ Việt Nam kế tiếp soạn thuật, từ Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, đến Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Phạm Công Trứ, Hồ Sĩ Dương, Lê Hy, Nguyễn Quý Đức...

Bên cạnh vị thế nhà quân sự, nhà chính trị, nhà văn hóa toàn tài, chúa Trịnh Căn còn là một nhà thơ Nôm hàng đầu thế kỷ XVII với tập Ngự đề Thiên Hòa doanh bách vịnh,còn gọi là Khâm định thăng bình bách vịnh. “Trăm bài thơ vịnh ở điện Thiên Hòa” của chúa Trịnh Căn làm theo thể Đường luật và Đường luật thất ngôn xen lục ngôn là lời ngợi ca xã hội thái bình, triều đại thịnh trị, công đức tổ tông mở nền cơ nghiệp, thể hiện niềm tự hào của tác giả về văn vật, cảnh quan đất nước và cuộc sống người dân nước Đại Việt. Tập thơ gồm những bài đề vịnh về thiên nhiên, khí hậu, danh lam thắng tích, người và cảnh vật nơi cung vua phủ chúa như Tam diệu đại thống (Ba mối huyền diệu lớn: Thiên, Địa, Nhân), Vịnh Nam Giao thi (Thơ vịnh đàn Nam Giao), Vịnh cung miếu thi (Thơ vịnh cung miếu), Vịnh Văn Miếu thi (Thơ vịnh Văn Miếu), Khán Sơn tự thi (Thơ vịnh chùa Khán Sơn), Chân Vũ quán thi (Thơ vịnh quán Chân Vũ), Phật Tích sơn tự thi (Thơ vịnh chùa núi Phật Tích), Vịnh Thủy Tạ thi (Thơ vịnh nhà Thủy Tạ), Vịnh Thị Kiều phong cảnh thi (Thơ vịnh phong cảnh Thị Kiều), Vịnh tân lâu Diệu Hải thi (Thơ vịnh lầu mới Diệu Hải), Vịnh long kiểu thi (Thơ vịnh kiệu rồng), Vịnh loan xa thi (Thơ vịnh xe loan), Vịnh thị kiều thi (Thơ vịnh võng chầu), Vịnh tượng thi (Thơ vịnh voi), Vịnh mã thi (Thơ vịnh ngựa), Vịnh thuyền thi (Thơ vịnh thuyền), Vịnh súng thi (Thơ vịnh súng), Vịnh cung thi (Thơ vịnh cung), Vịnh nỗ thi (Thơ vịnh nỏ), Vịnh kiếm thi (Thơ vịnh kiếm), Vịnh bút thi (Thơ vịnh bút), Vịnh nghiên thi (Thơ vịnh nghiên), Vịnh phiến thi (Thơ vịnh quạt), Quản giáp (Người kép hát), Vịnh tam hữu Thông, Trúc, Mai (Vịnh ba người bạn Thông, Trúc, Mai), Đào nương, Đàn trạch... Dưới một số bài thơ có kèm lời dẫn bằng Hán văn. Lý tưởng “Nội Thánh ngoại Vương” của nhà Nho - Đế vương Trịnh Căn thể hiện rõ nét qua lời dẫn cụm 4 bài thơ vịnh Văn Miếu Quốc Từ Giám: “Ta vâng nối nền vương, tự cầm vương chính. Tôn phò hoàng đế giữ vững dư đồ. Dùng văn giáo để tô vẻ thái bình, chọn nhân tài mà lo nền trị đạo. Nghĩ rằng: Nhân, nghĩa, lễ, nhạc, vốn đã có bậc tôn sư. Xem xét trong điển tịch, đến thăm nhà Thái học, làm lễ bái yết, hết mực tôn kính. Ngửa trông ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, mênh mang như nguồn suối chảy khắp. Lòng đạo bừng dậy, tứ thơ nảy sinh. Dường thấy mưa ngọt tuôn ra ở ao vàng, mây trôi lênh láng trên tầng thượng phẩm. Bèn làm ra hai bài thơ Đường luật, hai bài thơ quốc âm, đại để là hình dung đạo đức công nghiệp của thánh nhân. Tuy chưa dễ thấy bến bờ của biển cả, song cũng đủ thấy ý rất mực sùng Nho trọng đạo, vậy nên lưu lại trên bia đá”...

Bài thơ Vịnh chùa Khán Sơn của Trịnh Căn có lời dẫn: “Chùa Khán Sơn nằm ở phía tây nội thành Thăng Long. Nơi đây không thấy suối rừng mà giầu thú ẩn dật...”, tiếp sau đó, ý thơ nhuốm màu thiền định giữa chốn nhân gian:
Một khuôn nhuần được khí thanh huyền,
Cảnh tự nhiên này khó uyển nhiên.
Tịnh xá làu làu vầng nguyệt dãi,
Phương đình thớn thớn bóng thông in.
Khăng khăng nẻo nhiệm thiền quan tĩnh,
Lộng lộng đường thông phép giáo truyền.
Nhắn nhủ bàng nhân du thưởng ấy,
Giữ lòng kính cẩn chớ trần duyên.
Thơ vịnh sự vật nơi cung vua phủ chúa tuy không chải chuốt, bóng bẩy như thơ vịnh cảnh nhưng đầy hào khí. Xin xem bài Thơ vịnh thuyền:
Càng dào thế nước ắt càng cao,
Trang triệu nhìn xem cảnh lạ bao.
Buồm gấm dong lèo bày dợn dợn,
Chèo lên nắm mái thét xao xao.
Giang sơn chốn chốn đều gồm trải,
Nhân vật đâu đâu vẹn tóm vào.
Vùng vẫy giữa duềnh kình ngạc xuyến,
Dẹp thanh bốn bể bặt ba đào.   
Hay như Thơ vịnh trúc lại đầy vẻ quyền quí, thanh cao:
Tư chất sinh nên chỉn lạ lùng,
Vời nào ai dễ dám phen cùng.
Tính thanh khá ví trung thần tiết,
Lòng chính dường bằng tuấn sĩ phong.
Lác đác vàng rây trăng dãi ánh,
Đỉnh đang ngọc dát gió đưa rung.
Yêu vì sớm ứng điềm hòa thái,
Đấng ấy đồn khen vuỗn chẳng vong.
(Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 6, Nxb.KHXH, HN 2000).

Chúa Trịnh Căn mất năm Kỷ Sửu (1709), hưởng thọ 77 tuổi, được truy tôn là Chiêu Tổ Khang vương. Cuộc đời Trịnh Căn cùng sự nghiệp của ông được xem là gạch nối giữa thời Trịnh - Nguyễn phân tranh và thời thịnh trị của Đàng Ngoài. Nhà sử học Phan Huy Chú (1782-1840) trong mục Nhân vật chí sách Lịch triều hiến chương loại chí đánh giá về chúa Trịnh Căn rằng: “Về chính trị thưởng phạt rõ ràng, mối giường chỉnh đốn, sửa sang nhiều việc” (Tổ phiên dịch Viện Sử học Việt Nam phiên dịch và chú giải, Nxb. KHXH., HN 1992, tr.213).

16 tháng 2, 2012

KINH THÁNH - MỘT TÁC PHẨM VÔ GIÁ CỦA NHÂN LOẠI

                                                                   Nguyễn Hải Hoành

 MỘT số hiểu lầm về Kinh Thánh
Cho tới nay dường như vẫn có nhiều người nghĩ rằng Kinh Thánh là sách nói về giáo lý của đạo Ki-tô, thuần túy là sách tôn giáo, chỉ dùng cho các tín đồ Ki-tô giáo mà thôi - mà tôn giáo lại là lĩnh vực nhạy cảm, ở ta quen gọi là “thuốc phiện của nhân dân”, chớ có dại mà đụng chạm tới - vì vậy ai không theo Ki-tô giáo thì chẳng cần và chớ nên đọc Kinh Thánh. Cuốn sách gối đầu giường của hơn một tỷ tín đồ và được cả thế giới không ngừng xuất bản với số lượng nhiều nhất này chưa từng thấy bán tại các hiệu sách ở ta. Báo in, báo điện tử ngại đăng các bài viết liên quan tới Kinh Thánh.
Thực ra cách hiểu như vậy là lệch lạc và bất lợi cho mọi người trong việc tìm hiểu văn hóa nhân loại và văn hóa phương Tây nói chung cũng như văn hóa Ki-tô giáo nói riêng.
Hiểu lầm nói trên có thể bắt nguồn từ bản thân tên “Kinh Thánh” đem lại ấn tượng “thần thánh”, thần bí. Đây là cái tên không chính xác, dễ gây hiểu nhầm. Thực ra sách này vốn dĩ có hai tên gốc: 1) Tên tiếng Hy Lạp là Biblia, nghĩa là “sách”; 2) Tên tiếng La Tinh là Scriptura, nghĩa là “trước tác” “bài viết”, “bản thảo” - nói cách khác, nó hoàn toàn không có chút nào ý nghĩa thần thánh. Tiếng Anh đầu tiên gọi là Biblelh, về sau thống nhất gọi là The Bible, nghĩa là sách kinh điển.
Tên sai là do ta dùng từ hoàn toàn theo Trung Quốc. Ngày xưa, khi dịch Cựu Ước toàn thư và Tân Ước toàn thư ra chữ Hán, người Trung Quốc gán cho hai cuốn sách này cái tên “Thần thánh điển phạm” (Mẫu mực thiêng liêng) và “Thiên kinh địa nghĩa” (Đạo nghĩa muôn thủa); về sau, khi in gộp Cựu Ước và Tân Ước thành một bộ sách, người Trung Quốc ghép hai chữ thứ hai lại thành “Thánh Kinh”, nghe nặng tính thần thánh, khiến người ta dễ hiểu lầm sách này chỉ là sách kinh điển của Ki-tô giáo. Quả thật, cái tên đó khi dịch sang tiếng Việt là Kinh Thánh đã nhuốm đậm màu sắc tôn giáo, thánh thần, trở nên xa lạ với cộng đồng người không theo tôn giáo.
Đây thật là một sai lầm lịch sử đáng tiếc nhưng không thể sửa được vì đã quen dùng và cảm thấy thiêng liêng, hay hay. Vì thế rất ít người Việt Nam thực sự biết Kinh Thánh là gì, nội dung ra sao, có ý nghĩa thế nào đối với chúng ta. Đây là một thiệt thòi lớn về tri thức cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên.

Sơ qua nội dung Kinh Thánh
Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu Ước (Old Testament) và Tân Ước (New Testament), do hơn 40 tác giả viết trong suốt hơn 1600 năm từ thế kỷ XII trước CN cho tới thế kỷ II sau CN, là một tác phẩm đồ sộ, bản tiếng Việt dày tới 1400 trang chữ khổ nhỏ.
Cựu Ước - Giao ước cũ của người Hebrew (nay gọi là Do Thái) với Thượng Đế, là Kinh điển của người Hebrew, thực tế là bộ sử của một dân tộc dẫn đầu nền văn hoá nhân loại. Từ 5000 năm trước, người Hebrew đã sáng suốt chỉ tin một đấng tối cao duy nhất họ gọi là Jehovah tức Thượng Đế (God), được hiểu là một sức mạnh siêu nhiên sáng tạo ra tất cả (Tạo Hóa, the Creater) - khái niệm ấy ngày nay ta chưa hiểu rõ song lại chưa thể phủ nhận - chứ không thờ một thần thánh nào có nguồn gốc từ người hoặc vật.
Cựu Ước gồm 39 cuốn chia 4 phần: - sách Luật pháp (5 cuốn đầu của Moses); - sách Lịch sử (12 cuốn); - sách Tiên tri (16 cuốn); - sách Văn thơ (6 cuốn). Cựu Ước rất ít mầu sắc tôn giáo, nó chứa đựng vũ trụ quan, nhân sinh quan cổ xưa nhất của nhân loại, là tài liệu vô cùng quý giá rất đáng nghiên cứu. Sách Cựu Ước nguyên văn viết hầu hết bằng tiếng Hebrew và một phần bằng tiếng Aramaic (tiếng của người Aram, tức Syria cổ), do nhiều người viết suốt từ năm 1200 đến năm 100 trước CN và được truyền miệng từ rất lâu trước khi viết. Tuy cổ xưa như thế nhưng Cựu Ước là một văn bản có thực và tồn tại cho tới ngày nay. Chứng cớ là thời gian 1947–1956, người ta phát hiện trong các hang động gần Biển Chết (Dead Sea, ở Israel) chứa hơn 900 “sách” có viết chữ (chữ Hebrew, Hy Lạp, Aramaic) bằng dùi nung trên da cừu, gọi là Sách Cuộn Biển Chết (Dead Sea scrolls), đựng trong các bình gốm cao. Giám định cho thấy số sách này được làm vào khoảng từ năm 100 trước CN tới 70 sau CN, là những bản sao cổ xưa nhất còn tồn tại của Cựu Ước (nội dung hoàn toàn như Kinh Cựu Ước hiện sử dụng) và một số kinh điển khác của người Hebrew. Phát hiện Sách Cuộn Biển Chết có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Tân Ước - Giao ước mới của các tín đồ Ki-tô giáo với Thượng Đế, nguyên văn viết bằng tiếng Hy Lạp, ra đời một thế kỷ sau khi xuất hiện đạo Ki-tô, tức rất muộn so với Cựu Ước, và nặng mầu sắc tôn giáo hơn; nó trình bày cuộc đời và học thuyết của Chúa Jesus. Tân Ước gồm 27 cuốn, chia 3 phần: - sách Phúc Âm (5 cuốn); - sách giáo lý (21 cuốn); - sách Khải Huyền (1 cuốn). Số trang của Tân Ước chỉ bằng khoảng gần 1/3 Cựu Ước. Các học giả cho rằng Tân Ước được viết xong vào khoảng năm 382 sau CN.
Kinh Thánh là một bộ sách có tính tổng hợp, một bách khoa toàn thư rất hữu ích trong việc nghiên cứu nhân loại cổ đại về các mặt lịch sử, chính trị, quân sự, pháp luật, luân lý đạo đức, kinh tế, khoa học kỹ thuật, y học, văn hóa... Chưa dân tộc nào viết được bộ sử của mình một cách khái quát, hữu ích như Cựu Ước. Bộ sử này không viết nhiều về đời sống, hành vi của các vua chúa (như Sử ký của Tư Mã Thiên), nhưng viết rất kỹ về quá trình di chuyển, các tai họa dân tộc (chiến tranh, đói kém...), các kinh nghiệm và đời sống của dân tộc này, qua đó đời sau có thể học được nhiều điều bổ ích.
Cựu Ước ghi lại đời sống mọi mặt của người Hebrew, từ việc lớn của quốc gia, dân tộc cho tới những chi tiết rất nhỏ nhặt trong ăn ở, đối nhân xử thế, thậm chí cả trong sinh hoạt tình dục, nhờ thế giúp hậu thế hiểu chính xác, chi tiết về đời sống tinh thần vật chất của họ cách đây mấy nghìn năm. Một thí dụ: phương pháp tránh thai phổ biến nhất, cổ nhất xưa nay là xuất tinh ngoài âm đạo - phương Tây gọi là Onasism - từ này có nguồn gốc trong Kinh Thánh, chương 38 “Sáng thế ký (Genesis)” “Giuđa và con dâu là Tama”(*).
Chưa dân tộc nào biên soạn và còn lưu giữ được một tác phẩm kinh điển có giá trị như Kinh Thánh phần Cựu Ước. Thí dụ “Kinh thánh” của văn minh Trung Hoa là sách Luận Ngữ hoàn toàn không có được tính tổng hợp như vậy, chưa kể còn ra đời sau 7 thế kỷ.
Kinh Thánh còn là một tác phẩm văn học đồ sộ, di sản quý báu của nhân loại. Trong Cựu Ước có các tác phẩm văn học trí tuệ, văn học tiên tri và văn học khải huyền, là những sáng tạo của người Hebrew.

Tính chất quan trọng của Kinh Thánh
Kinh Thánh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của dân tộc Do Thái. Cựu Ước là kinh điển của đạo Do Thái, nhờ tôn giáo này mà người Do Thái dù hai nghìn năm mất tổ quốc, sống lưu vong phân tán ở khắp nơi trên thế giới, bị hắt hủi, xua đuổi, thậm chí hãm hại, tàn sát nhưng vẫn giữ nguyên vẹn được nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa và nhất là họ luôn dẫn đầu thế giới trong các hoạt động trí tuệ. Ngày ngày cầu kinh, ôn lại lịch sử khốn khổ của dân tộc mình, là cách nhắc nhở người Do Thái luôn nhớ quá khứ gian nan của mình để cố gắng vươn lên thoát khỏi nghịch cảnh. Dân tộc nhỏ bé này có đóng góp cho nhân loại nhiều hơn mọi dân tộc khác. Một thí dụ: người Do Thái chỉ chiếm 0,25% số dân thế giới nhưng họ chiếm 22% tổng số giải Nobel các loại đã trao trong thời gian 1901-2007; trong đó có 41% giải Kinh tế, 26% giải Vật lý, 19% giải Hóa, 28% giải Y học, 13% giải Văn học, 9% giải Hòa bình.
Đối với loài người, tính chất quan trọng của Kinh Thánh không chỉ thể hiện ở chỗ nó được in đi in lại với số lượng nhiều nhất thế giới, mà còn ở chỗ được người ta quan tâm đọc và trích dẫn nhiều nhất - đây là tiêu chuẩn định lượng đánh giá một tác phẩm. Cho tới nay, Kinh Thánh đã lưu truyền mấy nghìn năm chưa bao giờ ngừng, được dịch ra 1800 ngôn ngữ của khắp thế giới, có ảnh hưởng tới hàng nghìn triệu người kể cả người không theo tôn giáo nào. Riêng nước Mỹ hàng năm in khoảng 9 triệu bản Kinh Thánh. Trung Quốc đã in hơn 40 triệu bản.
Kinh Thánh là nguồn cảm hứng và trích dẫn của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, lịch sử, triết học v.v… trên toàn thế giới. Từ bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng của Leonard de Vinci, tập thơ Thần khúc của Dante, các vở kịch của Shakespeare (vở Hamlet trích dẫn Kinh Thánh nhiều nhất), cho tới tiểu thuyết Sống lại của Tolstoy,… vô số tác phẩm văn học nghệ thuật đều lấy nguồn từ Kinh Thánh. Các trước tác của Các Mác và Ăng ghen trích dẫn Kinh Thánh hơn 300 lần, liên quan tới hơn 80 nhân vật trong đó. Tại Trung Quốc, Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn... đều trích dẫn Kinh Thánh. Ở Việt Nam, chúng ta thường xuyên kỷ niệm lễ Phục sinh, Giáng sinh…, tiểu thuyết, sách báo ta thường nói A-đam, Ê-va, Chúa,... tất cả đều có nguồn gốc từ Kinh Thánh.
Bởi vậy nếu không hiểu Kinh Thánh thì sẽ rất khó tìm hiểu văn minh phương Tây - nền móng của văn minh hiện đại, cũng rất khó hiểu về dân tộc Do Thái. Không đọc Kinh Thánh thì tất nhiên sẽ dễ nói, viết sai về các điển tích đó. Rõ ràng tất cả mọi người, nhất là người làm công tác văn hóa văn nghệ, giáo dục, xã hội... đều nên đọc Kinh Thánh.

Kinh Thánh ở Việt Nam
Có lẽ vì nghĩ rằng Kinh Thánh là sách riêng của Ki-tô giáo, tuyên truyền cho tôn giáo, nên ở ta không thấy hiệu sách nào có bán Kinh Thánh do nhà xuất bản của nhà nước chính thức phát hành rộng rãi như một tác phẩm văn hóa bình thường.
Thực ra các giáo hữu ở ta đều có cuốn Kinh Thánh do Tòa Tổng Giám mục Hà Nội kết hợp Nhà Xuất bản Hà Nội in và xuất bản với số lượng lớn nhưng chỉ phát hành nội bộ giáo hữu. Cuốn Kinh này chỉ in Tân Ước nặng tính tôn giáo; Cựu Ước quan trọng hơn thì lại không được in, thật đáng tiếc. Sách khổ nhỏ cỡ bàn tay in trên giấy tốt, bìa ni lông. Ngoài ra các giáo hữu còn có sách “Kinh Thánh bằng hình” (phụ bản của báo “Công giáo và Dân tộc” in tại TP Hồ Chí Minh năm 1991, lượng in 25000 cuốn); đáng tiếc là hệ thống phát hành của nhà nước cũng không phát hành cuốn này.
Lùng các hiệu sách cũ, người viết bài này mua được một bản Kinh Thánh toàn tập tiếng Việt, dày 1400 trang giấy mỏng, bìa giả da, do United Bible Societies in tại Hàn Quốc năm 1995. Sách dùng cách hành văn và từ ngữ cổ, khó hiểu; phần Tân Ước dịch khác nhiều so với bản in của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.
Thiết nghĩ hệ thống xuất bản phát hành của nhà nước nên xuất bản phát hành Kinh Thánh như một tác phẩm văn hóa nghệ thuật nhằm khai thác kho tàng văn hóa vô giá này của nhân loại. Nên đưa việc học Kinh Thánh (nhất là Cựu Ước) vào chương trình giảng dạy phổ thông trung học. Cũng nên biên soạn các sách hướng dẫn tìm hiểu giá trị văn hóa lịch sử, khảo cổ… của Kinh Thánh. Việc tìm hiểu Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn, toàn diện về văn minh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói chung, giúp chúng ta hòa vào dòng chảy chung của văn minh toàn cầu, đồng thời thể hiện chúng ta biết tôn trọng văn hóa tôn giáo - một thành phần rất quan trọng của văn hóa thế giới.
Đây là một việc cần làm khi Việt Nam đã gia nhập WTO, hòa vào nhịp sống chung của toàn cầu, trong đó có đời sống văn hóa-tâm linh.

15 tháng 2, 2012

CUỘC CHIẾN THƯƠNG MẠI CỦA CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN

                                                                              Nguyễn Lục Gia
(Qua “Đại Nam thực lục tiền biên”)
[Tóm tắt: Cùng với tiến trình chinh phục xuống phía Nam về mặt lãnh thổ, chính quyền chúa Nguyễn đã không ngừng khai thông, củng cố và mở rộng tuyến đường thương mại nội địa lẫn ven bờ biển Đông. Một cuộc chiến thương mại giữa chính quyền chúa Nguyễn với các thế lực lái buôn khu vực và phương Tây diễn ra thực sự quyết liệt ngay từ đầu dưới nhiều hình thức, kéo dài từ cửa Việt đến trấn Hà Tiên, trải rộng từ đất liền ra hải đảo, mà dai dẳng nhất là các trở lực Hoa thương. Nếu như giặc Hiển Quý, Ô Lan, Man An Liệt có tính chất nhất thời thì những loạn A Ban, Linh Vương - Quảng Phú, Lai – Lăng, Lý Văn Quang, Hoắc Nhiên, Trần Thái... trở nên vấn nạn cáo cấp thường trực. Lợi ích kinh tế cũng sống còn sánh bằng chính trị, thậm chí vượt lên trên chính trị trong một giai đoạn đặc biệt của lịch sử vương quyền Việt Nam].
   
Trong suốt 200 năm kiến lập và phát triển xứ Đàng Trong, chính quyền chúa Nguyễn đã định hướng cho mình đường lối hướng biển theo gương vương quốc Champa, đồng thời phát huy phương thức khai thác và quản lý nông nghiệp với một tư duy thực sự khai mở. Nhờ vậy, Đàng Trong đã bứt phá vượt lên, không những đủ sức đương đầu với Đàng Ngoài của họ Trịnh mà còn đẩy nhanh tiến trình chinh phục xuống phía Nam trong xu thế mở rộng ảnh hưởng ra ngoài của thế giới và khu vực. Trong một giới hạn nào đó, chính quyền chúa Nguyễn đã theo kịp thời đại và hội nhập thành công.

Để giành lấy thế mạnh thương trường, chính quyền chúa Nguyễn đã liên tục dẹp bỏ các trở lực thương mại trong phạm vi quốc gia lẫn khu vực, quốc tế. Tiến trình này di chuyển theo hướng từ Bắc xuống Nam cùng với cuộc chiến tranh xác lập chính thể, mở rộng đất đai của vương triều họ Nguyễn từ lúc Nguyễn Hoàng đặt chân lên đất Thuận Quảng đến trước nội chiến thời Tây Sơn.
         
Vụ Hiển Quý tặc tại cửa Việt (1585).

“Ất Dậu... bấy giờ có tướng giặc nước Tây Dương hiệu là Hiển Quý (Hiển Quý là tên hiệu của bọn tù trưởng Phiên, không phải tên người) đi 5 chiếc thuyền lớn, đến đậu ở cửa Việt để cướp bóc ven biển. Chúa sai hoàng tử thứ sáu lĩnh hơn 10 chiến thuyền, tiến thẳng đến cửa biển, đánh tan 2 chiếc thuyền giặc. Hiển Quý sợ chạy (...) Từ đó giặc biển im hơi” [1].
         
Theo quan sát của GS. Shigeru Ikuta, mặc dù năm 1565 nhà Minh đã phải bãi bỏ lệnh hải cấm, song lại “không cho phép các tàu Nhật được đến cảng của mình. Do đó việc buôn bán được tiến hành bởi người Bồ Đào Nha hoặc bởi những kẻ giang hồ ngoài khơi”, “bao gồm dân đi biển đủ mọi nguồn gốc và thường được gọi là hải tặc Nhật, những kẻ trú ngụ trên những hòn đảo ngoài biển Đông Trung Hoa” [2]. Do vậy, tuy mang tiếng “hải tặc”, phần lớn họ là những đội thương thuyền đóng vai trò buôn bán trung gian giữa Nhật với Trung Hoa trong vùng biển Đông Nam Á. Nhưng đó là người Bồ Đào Nha, tức Tây Dương hay người Nhật?
         
TS. Li Tana khẳng định bất ngờ: tên cướp biển Shirahama Kenki, người Nhật đầu tiên được nhắc đến trong Tiền Biên đã bị lầm là người phương Tây thì lạ lùng thay, 16 năm sau, cái tên Hiển Quý lại xuất hiện trong một bức thư Nguyễn Hoàng gửi cho vị tướng quân Tokugawa thứ nhất, Ieyasu, vào năm 1601. Bức thư giải thích rằng do không biết Hiển Quý là một thương gia của chính quyền Tokugawa phái tới nên quan quân đã đánh đắm thuyền ở cảng Thuận An, nay cho hộ tống về nước. Trong thư phúc đáp, Tokugawa nói rõ Hiển Quý không phải là đặc phái viên của ông ta: “Những con người độc ác ấy đã phạm tội giết người đáng bị dân tộc quý ngài trừng phạt. Lòng quảng đại của quý ngài đối với các thuỷ thủ ấy đáng được chúng tôi ghi lòng tạc dạ một cách sâu sắc”, kèm thêm một thông cáo: “Trong tương lai, các tàu thuyền từ xứ chúng tôi tới thăm xứ của Ngài phải được chứng nhận bởi con mộc đóng trên bức thư này và tàu thuyền nào không có con mộc sẽ bị coi là bất hợp pháp” [3]. Đó chính là chế độ Shuin Jo, thời kỳ Châu ấn thuyền nổi tiếng trong lịch sử hải thương nước Nhật (1592-1635) mà Đàng Trong liên tục duy trì và mở rộng suốt 3 thập niên từ năm 1604 đến 1635.

Vụ Ô Lan tặc tại cửa Eo (1644).

“Bấy giờ giặc Ô Lan [Hà Lan] đậu thuyền ngoài biển, cướp bóc lái buôn. Quân tuần biển báo tin. Chúa [Phúc Lan] đương bàn kế đánh dẹp. Thế tử [Phúc Tần] tức thì mật báo với Chưởng cơ Tôn Thất Trung (con thứ tư của Hy Tông), ước đưa thuỷ quân ra đánh. Trung lấy cớ chưa bẩm mệnh, ngần ngại chưa quyết. Thế tử đốc thúc chiến thuyền của mình tiến thẳng ra (...) Chiến thuyền trước sau lướt nhanh như bay. Giặc trông thấy cả sợ, nhằm thẳng phía Đông mà chạy, bỏ rơi lại một chiếc thuyền lớn. Thế tử đốc quân vây bắn. Tướng giặc thế cùng phóng lửa tự đốt chết. Thế tử bèn thu quân về...” [1].

Diễn biến trên được sử gia Lê Quý Đôn xác định xảy ra năm Quý Mùi (1643) và tóm lược: “con thứ hai (Phúc Lan) là Phúc Tần đem thuỷ quân đánh phá được mười chiếc tàu của giặc Ô Lan ở cửa Eo. Phúc Lan khen là dũng, bèn có ý dựng làm con nối nghiệp” [4].
         
Thực ra biến cố ở cửa Eo (Thuận An) là điểm nút của một chuỗi dài các tác nhân trong quan hệ giao thương giữa chính quyền chúa Nguyễn với Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) suốt từ năm 1613, có sự can dự của họ Trịnh Đàng Ngoài. Các chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Lan một mặt mở cửa mời gọi thương thuyền Hà Lan từ Batavia đến buôn bán, mặt khác tịch thu không hoàn trả hàng hoá và đại bác trục vớt từ các tàu bị đắm của VOC. Ngược lại, VOC vừa quan hệ với Đàng Trong, vừa ngầm giúp chính quyền Đàng Ngoài, thậm chí còn tổ chức nhiều vụ bắt giết thường dân ven biển dọc phủ Hoài Nhơn đến Đà Nẵng làm áp lực đòi trao trả hàng hoá và thuỷ thủ với chính quyền chúa Nguyễn [5]. Cuối cùng, VOC đã công khai đứng về phía Đàng Ngoài chống lại Đàng Trong bằng hành động quân sự.    
         
Đoàn chiến thuyền của Hà Lan xuất phát từ Batavia chia làm hai cánh: cánh thứ nhất gồm 3 chiến thuyền có tên Wakendebode, Kievit, Meerman do Isaac Davids chỉ huy thẳng hướng ra Đàng Ngoài để đón và đi với chúa Trịnh Tráng, vua Lê cùng một binh đoàn 100.000 quân; cánh thứ hai cũng 3 tàu, có tên Wojdenes, Waterhond, Vos do Baek chỉ huy trực chỉ hướng Thuận An. Đoàn chiến thuyền quân Nguyễn do Nguyễn Phúc Tần chỉ huy lập tức tổ chức vây đánh đội tàu do Baet dẫn đầu, khiến chúng hoảng loạn bỏ chạy. Trong tình thế cấp bách, đối phương đành tự phóng lửa đốt cháy chiếc tàu tiên phong do chính Baet chỉ huy, giải vây cho hạm đội trong tiếng súng rền vang lẫn lửa khói mù trời [6].
         
Tám năm sau, năm 1651 VOC chủ động dàn hoà và được chính chúa Nguyễn Phúc Tần đứng ra ký kết thương ước. Tuy nhiên, phải hơn một thế kỷ sau, năm 1754 các nhà buôn Hà Lan mới đặt chân trở lại xứ Đàng Trong.          

Vụ Hoàng Tiến tạo phản ở Đông Phố (1688 – 1689).
         
“Tháng 6, phó tướng Long Môn Hoàng Tiến giết chủ tướng là Dương Ngạn Địch ở cửa biển Mỹ Tho, tự xưng là Phấn dũng hổ oai tướng quân, thống lĩnh dư chúng Long Môn, dời đồn sang Nan Khê (nay thuộc huyện Kiến Hoà, tỉnh Định Tường), thủ hiểm đắp luỹ, đúc đại bác, đóng chiến thuyền, thả quân đi cướp bóc” [1]. Nhân đó phiên thần Chân Lạp cũng bỏ việc triều cống, âm mưu đắp chiến luỹ cố thủ.
         
Mười năm về trước, năm 1679 binh tướng bại trận nhà Minh không chịu thần phục Thanh triều đã kéo vào Đàng Trong xin nhận làm thần dân chúa Nguyễn, được phát lệnh khai khẩn xứ Đông Phố - Đồng Nai. “Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây Dương, Nhật Bản, Chà Và đi lại tấp nập, do đó mà minh hoá Hán [phong hoá văn minh] thấm dần khắp miền Đông Phố” [1].
         
Nhằm độc chiếm cả một trung tâm thương mại sầm uất vừa mới trỗi dậy này, Hoàng Tiến đã sát hại chủ tướng rất mực trung thành với chúa Nguyễn, xâm lấn và cướp bóc Chân Lạp, mưu phản triều đình. Lợi ích buôn bán và kinh tế nông nghiệp khai thác trên vùng đất mới đem lại nguồn của cải dồi dào cho chính quyền của Chúa, vì vậy trừng phạt Chân Lạp không nạp cống chỉ là cái cớ, tiêu diệt Hoàng Tiến mới đích thị lý do, cho dù chiếu lệnh vẫn ghi “đem quân đánh Chân Lạp. Sai Hoàng Tiến làm tiên phong, dưới quyền tiết chế của Vạn Long” [1]. Diễn biến cuộc thảo phạt mùa xuân năm Kỷ Tỵ (1689) cho thấy Thống binh Mai Vạn Long phải tốn nhiều công sức lẫn cơ mưu mới đánh bại được Hoàng Tiến, còn việc trừng phạt Chân Lạp tỏ ra kéo dài, không dứt khoát. Cho đến năm sau (1690) khi Nguyễn Hữu Hào được cắt cử vào thay Mai Vạn Long, tình hình đôi bên vẫn dùng dằng mà nguyên nhân viện dẫn không mấy thuyết phục là bởi sự khất hẹn của nữ sứ Chiêm Dao Luật, cuối cùng đành buộc lui binh, chấp nhận cách chức. Phải chăng vấn đề khai thông mạng lưới thương mại trên vùng châu thổ giàu có sản vật phương Nam là lợi ích thiết thực hàng đầu nên tranh thủ được sự đồng tình của quan quân, còn việc tiến sâu vào chinh phục nội địa Chân Lạp lúc này vừa chưa cần thiết vừa oai uy quá đáng, bởi như lời của Mai Vạn Long: “họ đã hàng phục thì còn chiến đấu làm gì?” hay lời của Nguyễn Hữu Hào: “Yên vỗ người xa, quý lễ mà không quý vật” [1].
         
Vụ A Ban nổi loạn ở trấn Thuận Thành (1693 – 1694).    
         
“Tháng 12, người Thanh A Ban cùng với hữu trà viên là Ốc nha Thát ở Thuận Thành nổi loạn. Trước là A Ban đến ở Thuận Thành, vốn cùng Ốc Nha Thát đi lại rất thân. Từ lúc Bà Tranh bị bắt, hai người đều chạy về đất Đại Đồng, A Ban đổi tên là Ngô Lãng, tự xưng mình có phép hô phong hoán vũ, gươm đao không thể làm bị thương. Người Thuận Thành là Chế Vinh kêu họp dân Man đi theo” [1]. A Ban chiếm giữ Phố Hài, đánh tan quân cứu viện từ Bà Rịa, khống chế Phan Rí, vây bức Phan Rang. Nhận được sự cứu viện từ Bình Khang, quân Nguyễn phản công và truy đuổi đến tận địa giới Chân Lạp, dẹp yên biến loạn.
         
Giữa Champa và Trung Hoa xác lập quan hệ buôn bán lâu đời nên có lẽ tại khu vực mệnh danh quốc cảng Panrik của vương quốc Champa trên vùng đất tận cùng này, Hoa thương xuất hiện sớm hơn người Việt đồng thời tạo được mối bang giao chặt chẽ với cộng đồng Champa hơn so với người Việt, vốn đối thủ theo cả hai nghĩa: chính trị lẫn thương trường. Phản ứng mang tính chất sống còn thể hiện ngay từ đầu đã công khai về một lợi ích căn bản được xác lập chắc chắn giữa thương gia và lãnh chúa. Lãnh chúa Thát thì đứng ra tập hợp dân Chàm, có đồ đảng Chế Vinh làm thay; lái buôn A Ban thì núp bóng làm Ngô Lãng, vừa phỉnh dụ Chàm tộc bởi phép tắc thần thông vừa đánh lừa người Việt bằng nhân thân đã được Việt hoá, nhân danh người Việt chống lại chính sách cai trị của quan quân Việt. Thái độ trấn áp mạnh mẽ của quan quân Nguyễn đã làm tan vỡ liên minh giữa nhà buôn với quý tộc, đè bẹp sự thách thức về quyền lợi của giới Hoa thương trên vùng đất mới mở cực Nam Trung Bộ này.
         
Vụ Linh Vương – Quảng Phú tụ đảng tại Quảng Ngãi – Qui Ninh (1695).
         
“Người lái buôn ở Quảng Ngãi tên là Linh (không rõ họ) tụ đảng hơn 100 người, tự xưng là Linh Vương, tạo chiến thuyền, đúc binh khí, cùng người Qui Ninh là Quảng Phú (không rõ họ) hợp đảng, ra vào núi rừng, hoành hành cướp bóc, quan địa phương không dẹp được, nhân dân sợ hãi chạy báo lên” [1].
         
Quảng Ngãi cùng với Qui Ninh trực thuộc dinh Quảng Nam ngay từ đầu đã là đất trị quản của họ Nguyễn, thấm nhuần pháp chế khoan dung, thuần thục lâu đời. Hầu như không có những biến động xã hội đáng kể xảy ra ở đây cho đến tận đầu thế kỷ sau, trừ đôi lần đột nhập của một bộ tộc vùng cao, gọi là Mọi Đá Vách nhằm cướp của, bắt người. Nhờ vậy, cư dân yên ổn làm ăn, kinh tế phát đạt, buôn bán sầm uất, nhất là hoạt động thương mại cảng thị ven biển, thường do thương nhân người Hoa nắm giữ và điều tiết. Với thế lực kinh tế trong tay, bộ phận đại Hoa thương có khuynh hướng thao túng cả tuyến đường thương mại của Đàng Trong bằng nhiều thủ đoạn, kể cả việc cấu kết, dung nạp các băng nhóm cướp biển, cướp núi.

Lái buôn tên Linh tuy gốc gác không rõ ràng, như rất nhiều trường hợp mà trong Tiền biên xác định rằng “không rõ họ”, song có thể nhận diện kẻ cầm đầu này qua danh xưng và kẻ đồng mưu. Tự xưng Linh Vương, điều này thường thấy ở các nhóm giặc Tàu Ô, mà đây là thương gia chứ không đơn thuần tướng cướp; hợp đảng với Quảng Phú, rõ ràng họ Quảng đích thị Tàu rồi [7]. Cả hai chứng cứ đã xác quyết Linh Vương nguyên là một Hoa thương chính hiệu. Lợi dụng tình hình bất ổn cũng như sự dồn sức đối phó của chính quyền chúa Nguyễn ở hai đầu vương quốc, loạn A Ban tại phủ Bình Thuận phía Nam (cuối 1693 - đầu 1694) và loạn cung đình Huệ - Thông ngay tại Chính Dinh phía Bắc (1694), Linh Vương lập tức hành động. Giả hoặc cũng có thể cả ba thế lực tạo phản này cùng liên kết và hậu thuẫn cho nhau, nhưng do kế hoạch bất nhất nên hành động không đồng loạt? Dù âm mưu thế nào, chính quyền chúa Nguyễn cũng đã mạnh tay trừ khử: “Chúa sai dinh Quảng Nam hợp với hai phủ Quảng Ngãi, Qui Ninh đem quân đi đánh. Khi các đạo quân xông tới sơn trại thì Linh đã chết. Quảng Phú cả sợ, trốn vào Phú Yên, dân Man bắt đem nộp. Chúa sai giết cùng với đồ đảng 20 người, và hậu thưởng dân Man” [1]. Lệnh trực tiếp từ Minh Vương, có sự tiếp sức của người Thượng dọc dài trên một vùng rừng núi rộng lớn phía Tây, chứng tỏ tính chất khẩn trương lẫn nguy hiểm của vấn đề.

Vụ Man An Liệt chiếm cứ đảo Côn Lôn (1702 – 1703).

“Giặc biển là người Man An Liệt [Anh, English] có 8 chiếc thuyền đến đậu ở đảo Côn Lôn. Trưởng là bọn Tô Thích Già Thi 5 người (...) cùng đồ đảng hơn 200 người, kết lập trại sách, của cải chứa đầy như núi, bốn mặt đều đặt đại bác” [1].

Côn Đảo thuộc chủ quyền chúa Nguyễn nằm ngoài khơi biển Đông, án ngự trên tuyến đường thương mại Ấn Độ - Trung Hoa nên là điểm dừng chân lý tưởng của các hạm thuyền quốc tế ngang qua khu vực. Công ty Đông Ấn của chính phủ Anh (EIC) âm mưu thiết lập một trạm trung chuyển nhằm tập kết và phát tán hàng hoá hoặc giao nhận mệnh lệnh. Sự kiện trên nằm trong một nổ lực lớn của người Anh nhằm vào mục đích đó, song họ đã bị thất bại: “trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan mộ 15 người Chà Và sai làm kế trá hàng đảng An Liệt để thừa chúng sơ hở thì giết. Bọn An Liệt không biết. Ở Côn Lôn hơn một năm không thấy Trấn Biên xét hỏi, tự lấy làm đắc chí. Người Chà Và nhân đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết nhất ban nhị ban, bắt được ngũ ban trói lại, còn tam ban tứ ban thì theo đường biển trốn đi. Phúc Phan nghe tin báo, tức thì sai binh thuyền ra Côn Lôn, thu hết của cải bắt được dâng nộp...” [1].

Tuy nhiên, cách giải thích của các tài liệu lại không trùng khớp nhau, thậm chí còn mâu thuẫn về nguyên nhân và thời điểm biến cố xảy ra. Phía người Anh cho biết Allan Catchpole, giám đốc thương điếm của công ty Đông Ấn Anh, có mang theo “một số người Maccassar [Mã Lai] được dùng làm lính và giúp dựng một công sự và đã ký với họ một hợp đồng ba năm”, và vì một lý do nào đó, ông này vào phút cuối đã không thực hiện hợp đồng, do đó những người Mã Lai “đầy căm thù và độc ác” đã giết gần hết số người Anh vào năm 1705; nhưng theo một văn bản khác, Nhật ký của công ty Đông Ấn buôn bán với Trung Hoa (1635 – 1834) thì một chiếc tàu tên là Catherine của công ty Anh tới Côn Đảo ngày 5.7.1704, giám đốc vẫn là Allan Catchpole mà vào thời điểm cuối tháng 7 này có tới 5 tàu Anh khác trên đường đi Trung Hoa đã ghé qua nhận mệnh lệnh [3].

Trong khi đó, chiến tích cùng công trạng của Trấn thủ dinh Trấn Biên Trương Phúc Phan mãi mãi được chúa Nguyễn vinh danh trên bảng vàng các bậc đại công thần khai quốc: “giặc biển Man An Liệt là lũ Thuyền, Tô, Lỵ, Gia, Thi 5 người, xưng là 5 ban, cùng đồ đảng 200 người đóng ở đảo Côn Lôn lập đồn trại chứa của báu như núi. Bốn mặt đảo, chúng đều đặt súng lớn (...) Phan bèn triệu mộ 15 người Chà Và, mật sai trá hàng rồi nhắm ban đêm phóng hoả đốt giết (...) thu hết vàng lụa đem về nộp. Chúa hậu thưởng cho. Lúc Phan chết, được tặng phong hàm Thái bảo Phan Quốc công” [8].

Vụ người Man ở Thuận Thành, người Thanh ở Đông Phố và giặc biển ở Long Xuyên (1746 – 1747).
         
Năm 1746, “Người Man Thuận Thành [người Chàm] là Dương Bao Lai và Diệp Mã Lăng nổi loạn. Lưu thủ dinh Trấn Biên là Nguyễn Cương [Cường] đem quân đi đánh, đắp luỹ Cổ Tỉnh để chống giặc, thừa lúc sơ hở đánh úp bắt được Bao Lai và Mã Lăng giết đi”; tháng giêng năm 1747, “khách buôn người Thanh là Lý Văn Quang đánh úp dinh Trấn Biên (...) Lưu thủ Nguyễn Cường đem binh của dinh giàn ở bờ phía Bắc, gởi hịch báo cai cơ đạo Hưng Phúc là Tống Phước Đại hợp quân đánh dẹp. Bắt được Văn Quang và đồ đảng 57 người. Chúa thấy là người Thanh không giết vội, đều hạ ngục; tháng 8 “giặc biển là tên Đức (không rõ họ) cướp bóc miền ngoài biển Long Xuyên. Mạc Thiên Tứ được tin báo, tức thì sai cai đội Từ Hữu Dụng đem 10 chiến thuyền, đi bắt được bọn giặc đem giết hết” [1].
         
Xâu chuỗi 3 biến cố trên, diễn biến một cuộc chiến giành giựt thị trường thương mại trên vùng đất đang khai mở ở phía Nam mang tính chất sống còn thật sự giữa chính quyền chúa Nguyễn với thế lực người Hoa đội lốt đủ các thành phần.

Lai, Lăng không có vẻ gì là Chàm tộc cả, bởi họ Dương Bao, Diệp Mã hoàn toàn là những họ kép của Trung Hoa [7]. Sử gia nhà Nguyễn đã lầm lẫn một cách cố ý để tiêu diệt không nương tay hành động chống trả người Việt cùng những quyền lợi kinh tế mà chính quyền chúa Nguyễn xác lập trên phần đất cuối cùng của vương quốc Champa có nhiều mối ràng buộc với thương lái Trung Hoa trước khi người Việt đặt chân đến. Họ liên kết với giới quý tộc và kích động dân Chàm phản kháng dưới chiêu bài chính trị rằng “không phục tùng chế độ cai trị của nhà Nguyễn” [9], như thường thấy ở nhiều nơi, vào nhiều thời điểm trên đất Thuận Phủ để giành lại địa vị thương mại tại một vị trí có nhiều cảng thị quan trọng, nối liền vùng Nam Trung Bộ phong phú các chủng loại đặc sản truyền thống với đồng bằng Nam Bộ dồi dào các nguồn hàng nông nghiệp.

Việc dẹp loạn Lai – Lăng có thể kéo dài chứ không gọn ghẽ như niên biểu mà Tiền biên đưa ra (khoảng cuối năm 1746), bởi để ngăn chặn hiệu quả các mũi tấn công của đối phương trên cả một vùng rộng lớn phía Nam Bình Thuận, Trấn thủ Nguyễn Cường của dinh Trấn Biên đã phải cho quân lính đắp luỹ Cổ Tỉnh dài hơn 645 trượng kiên cố [10], sau đó từng bước phản kích và lợi dụng sơ hở đánh úp doanh trại kẻ chủ mưu. Do đó, tranh thủ thời cơ lực lượng tại chỗ của chúa Nguyễn đang bị thu hút ở mặt Bắc, Lý Văn Quang dẫn đồng đảng đánh úp dinh Trấn Biên. Tuy nhiên Lưu thủ Nguyễn Cường đã kịp thời phối hợp với Cai cơ đạo Hưng Phúc là Tống Phước Đại bao vây bắt sống.
Trong khi đó, giặc Đức hoạt động ráo riết vùng biển từ Qui Nhơn đến Long Xuyên, Ba Thắc cũng đã táo tợn tấn công cướp lấy thuyền long bài (thuyền vua ban) và hàng ban phẩm của Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ. Lai lịch cùng hành động của Đức ngờ rằng là một Tàu Ô hơn tên cướp Việt qua mô tả của văn thần nhà Nguyễn: “giặc biển nguỵ xưng là Vũ Vương (...) tên là Đức Bụng (người phủ Qui Nhơn, tên là Đức, vì bụng to gọi là Đức bụng)” [11], bởi dám liều lĩnh công khai tuyên chiến với quan quân nhà Chúa và rặt kiểu xưng vương bá chủ như thương tặc Đông Phố Đại Vương Lý Văn Quang, Linh Vương...        

Những vụ tập kích trấn Hà Tiên (1767 – 1771).

Trên điểm dừng chân cuối cùng của họ Nguyễn ở phương Nam này đã liên tục bị khuấy động bởi một loạt các tranh chấp thương mại, cướp biển, cát cứ, chiếm đoạt đất đai của người Hoa lẫn Xiêm La, người Chà Và và Chân Lạp, từ Mã Lai, Sumatra đến Miến Điện. Năm 1767, “người Triều Châu nước Thanh là Hoắc Nhiên rủ nhau họp đảng, lấy đảo Cổ Công là nơi hiểm trở hẻo lánh, dựa làm sào huyệt, thường ẩn hiện ở vùng duyên hải, đón cướp thuyền buôn, vây cánh ngày một nhiều, có ý ngầm nhòm ngó Hà Tiên”; năm 1769, “Người Triều Châu là Trần Thái họp đảng ở núi Bạch Mã, mưu đánh úp Hà Tiên, ngầm kết với người họ Mạc...”; năm 1770, “Phạm Lam họp đảng ở Hương Úc và Cần Vọt cùng với người Chà Và là Vang Ly Ma Lư và người Chân Lạp là Ốc nha Kê họp quân hơn 800 người và 15 chiếc thuyền, chia đường thuỷ bộ đánh úp Hà Tiên”; năm 1771, lại “vua Xiêm (...) dùng tên giặc [núi] Bạch Mã là Trần Thái làm hướng đạo, vây trấn Hà Tiên...” [1].

 Có thể nhận thấy chặng cuối con đường giao thương của chính quyền chúa Nguyễn là nơi quy tụ các lợi ích to lớn của giới thương nhân khu vực, trong đó tập trung đông đảo nhất vẫn là các lái Trung Hoa. Thủ đoạn vẫn như cũ, song mức độ tranh chấp của người Hoa càng về sau càng trở nên căng thẳng, khốc liệt. Thêm một tác động cùng chiều, đúng vào thời điểm này tại Xiêm La, Trịnh Quốc Anh tự lập làm vua: “Quốc Anh là người Triều Châu nước Thanh (...) thừa lúc nước Xiêm trống trải suy yếu, bèn dấy quân đánh úp lấy đất, tự xưng làm quốc vương” [1]. Cơ may của người đồng hương phương Bắc đã kích thích lòng tự tôn của những gã lái buôn phiêu lưu, khiến chúng càng nóng lòng manh động, liều lĩnh như trong canh bạc cuối: được ăn cả, ngã về không!

Với tính chất là một thể chế thương mại [3], chính quyền chúa Nguyễn đã thiết lập ở đây một đầu cầu giao dịch quan trọng, mệnh danh một Tiểu Quảng Châu và được bảo vệ một cách nghiêm ngặt bằng lực lượng bố phòng địa phương, dưới sự hỗ trợ tích cực của Gia Định. Từ năm 1714, Minh Vương phong Mạc Cửu làm Thống binh trấn Hà Tiên, tước Cửu Ngọc hầu. Mạc Cửu chết, năm 1736 con là Mạc Thiên Tứ thế tập, được Ninh Vương “thăng làm Khâm sai Đô đốc Tung Đức hầu, ban cho 3 chiến thuyền long bài, miễn cho lệ thuế thuyền buôn, hàng năm ra nước ngoài mua đồ vật quý, đến Kinh dâng tiến” [11]. Rõ ràng quyền lợi của chúa Nguyễn tại đây là không thể nhân nhượng, do đó các thế lực tranh chấp đều lần lượt bị đè bẹp, ngay cả quân Xiêm cũng bị đánh cho đại bại, vua Xiêm phải gửi thư xin cầu hoà.

Cùng lúc này, phong trào Tây Sơn nổ ra đã cuốn hút những nổ lực của họ Nguyễn từ mở đất và thương mại chuyển sang giành giữ đất và chiến tranh. Tuy nhiên, những kinh nghiệm giao thương và lợi thế kinh tế của vùng đất phía Nam đã được họ Nguyễn phát huy tối đa, tạo nên đối trọng vật chất to lớn, góp phần vươn lên giành lấy thắng lợi chung cục trong cuộc nội chiến mất còn suốt ba thập niên cuối thế kỷ XVIII.

Tài liệu trích dẫn.
[1] QSQ triều Nguyễn (1962), Đại Nam thực lục tiền biên, tập 1, NXB Sử học, HN, tr.37, 73-74, 135, 125, 136, 140-142, 148, 152, 159, 161, 209-210, 233-240.
[2]  UBQG (1991), Đô thị cổ Hội An, NXB KHXH, HN, tr.255-256.
[3] Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, NXB Trẻ, tr.87-88, 113-114, 125.
[4] Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, NXB Văn hoá – Thông tin, tr.65-66.
[5] Nguyễn Lương Bích (2003), Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước, NXB Quân đội nhân dân, tr.179-181.
[6] Tôn Châu Quân (2008), “Nguyễn Phúc Tần và trận hải chiến lịch sử năm 1644”, tạp chí Xưa nay (số 304), tr.12-13.
[7] Nguyễn Khôi (2006), Các dân tộc ở Việt Nam: cách dùng họ và đặt tên, NXB Văn hoá dân tộc, HN, tr.161-163.
[8] QSQ triều Nguyễn (1993), Đại Nam liệt truyện, tập 1, NXB Thuận Hoá, tr.126.
[9] ƯBND tỉnh Bình Thuận (2006), Địa chí Bình Thuận, Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Bình Thuận, tr.228.
[10] QSQ triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB Thuận Hoá, tr.166.
[11] Trịnh Hoài Đức (1998), Gia Định thành thông chí, NXB Giáo dục, tr.120-121.