Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử Địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử Địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng

24 tháng 6, 2012

TỪ SỰ HỦY DIỆT CỦA VĂN MINH ÓC EO NHÌN VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

                                                                                     Hà Văn Thùy
Bước sang thế kỷ XXI, loài người đối mặt với nhiều hiểm họa sinh thái, trong đó đáng lo ngại nhất là sự nóng lên của Trái đất sẽ gây ra nạn đại hồng thuỷ nhấn chìm nhiều khu vực trên hành tinh. Theo dự báo ít bi quan nhất vào năm 1990 của Uy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) thì đến năm 2100, ít nhất mực nước biển tăng 15cm, trung bình lớn hơn 50 cm và cao nhất là 95 cm. Tuy nhiên, con số đưa ra của Viện Hàn lâm quốc gia Hoa Kỳ (NAS) và Cục bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) thì đến cuối thế kỷ này, mực nước biển tăng thấp nhất là 56 cm và cao nhất sẽ là 245 cm. Nếu chỉ căn cứ vào dự báo có phần lạc quan của IPCC, đến cuối thế kỷ sẽ có từ 2 đến 2,5 triệu hecta đất của đồng bằng sông Cửu Long và từ 1 đến 1,5 triệu hecta đất của đồng bằng sông Hồng ngập chìm trong nước biển!
Nỗi lo này có cơ sơ nếu ta nhìn lại những trận hồng thuỷ đã diễn ra trong quá khứ.
Nhà địa chất học người Pháp H. Fontaine cho thấy bức tranh khái quát của việc biến đổi mực nước biển như sau:
          Cuối Đại Pleixtoxen đầu Holoxen có một đợt hải thoái, mực nước biển hạ thấp khoảng 100 - 120 m so với ngày nay, khiến cho Biển Đông chỉ còn là một vũng nhỏ. Tiếp đó là thời kỳ băng hà Wum cách nay 60.000 đến 11.000 năm. Sau giai đoạn chuyển tiếp kéo dài 750 năm (từ 11.000 đến 10.250 năm trước) là thời kỳ băng tan và nước biển bắt đầu dâng. Sau đó vào năm 4850 trước Công nguyên, nước biển dâng lên bằng mực nước ngày nay. Sau thời kỳ này là 4 đợt hải xâm và 3 đợt hải thoái xen kẽ nhau:
  - Hải xâm Holoxen I  từ 4850 đến 1650 trước công nguyên, kéo dài 3.200 năm với 3 giai đoạn đỉnh cao 4 m (năm 3900), 3 m (năm 2.950), 2 m (năm 2.350).
  - Hải thoái Holoxen 1  từ 1.650 năm đến 1.150 năm trước Công nguyên, thời gian 500 năm với mức hạ thấp nhất - 0,8 m xảy ra vào năm 1400 trước Công nguyên.
  - Hải xâm Holoxen II  từ 1.150 đến 850 trước Công nguyên, thời gian 300 năm, đỉnh cao nhất xảy ra vào năm 950 trước Công nguyên.
  - Hải thoái Holoxen 2 từ năm 850 đến năm 200 trước Công nguyên, thời gian 650 năm, với cực tiểu 1 m xảy ra vào năm 550.
  -   Hải xâm Holoxen III từ năm 200 đến năm 50 trước Công nguyên, kéo dài  150 năm, mức cao nhất khoảng 0,4 m vào năm 50.
  -  Hải thoái Holoxen 3 từ năm 50 trước đến năm 550 sau Công nguyên, kéo dài  500 năm với mực nước thấp nhất - 0,5 m vào năm 200.
  -  Hải xâm Holoxen IV từ năm 350 đến năm 1.150, kéo dài 800 năm với mức cao trung bình 0,8 m vào năm 650.
  -  Từ năm 1.150 đến 1950 nước biển dao động 1 m, xem như ổn định hơn các thời kỳ trước.
          Điều đáng chú ý là khi so sánh những vết tích hải xâm hải thoái ở Việt Nam, các nhà khoa học đã tìm thấy sự tương đồng với những dấu tích hải xâm hải thoái ở bờ bên kia của Thái Bình Dương, trên đất Mỹ: Hải thoái Oc Eo cách nay 1750 năm tương đương Hải thoái Florida - 3 m cách nay 2000 năm; Hải thoái Rạch Giá cách nay 3350 năm tương đương Hải thoái Crane Key - 2 m cách nay 3300 năm.
          Trong những đợt hải xâm hải thoái trên, đáng chú ý là Hải xâm Holoxen IV. Sau khi hiệu chỉnh niên hạn theo phương pháp C14, các đặc tính của lần hải xâm này như sau:
  - Thời hạn 800 năm, từ năm 350 đến năm 1.150, đỉnh cao vào năm 650.
  -   Mực nước cao nhất từ 0,5 đến 1 m trong 30 năm, từ năm 635 đến năm 665.
Giai đoạn lên từ năm 350 đến 650. Giai đoạn xuống từ năm 650 đến năm 1.150.
          Ngoài việc chứng minh Hải thoái giữa Đại Trung sinh và Tân sinh, Biển Đông khô cạn tạo điều kiện cho động vật từ châu Á tràn sang châu Đại Dương khiến cho hệ động vật gần nhau giữa hai châu lục, chúng ta chưa biết nhiều về ảnh hưởng của các đợt hải xâm hải thoái trong lịch sử. Tuy vậy, ở nước ta có một vùng đất chịu tác động trực tiếp của Hải xâm Holoxen IV, đó là đồng bằng sông Cửu Long.
          Hải xâm Holoxen III diễn ra từ năm 200 đến năm 50 trước Công nguyên với mức nước 0,4 m đã ngăn chặn sự lan tỏa của văn hóa sông Đồng Nai ra đồng bằng nên phần lớn miền Tây Nam Bộ không có người sinh sống. Chỉ đến đầu Công nguyên, khi nước rút xuống thì những người Malayopolynesia mới từ các đảo ngoài biển tràn vào, tạo dựng văn minh Oc Eo. Nhưng từ năm 350 nước bắt đầu dâng lên từ từ. Thời gian đó, người Oc Eo sống chung với lũ bằng cách dựng nhà sàn và phát triển giao thông đường thủy. Nhưng đến năm 650, nước lũ lên quá cao, đến 1 m khiến người Oc Eo không thể bám trụ lại được nữa, một phần lên thuyền dông ra biển trở lại những hòn đảo tổ tiên họ đã ra đi, một bộ phận tiếp giáp Đông Nam Bộ thì lên vùng đất cao, thành một số tộc người Nam Trường Sơn hiện nay. Người Oc Eo không phải người bản địa mà là người di tản từ nơi khác đến, mang theo nền văn minh vốn có của họ. Chỉ trong vòng 600 năm tồn tại, người Oc Eo đã kiến tạo đồng bằng sông Cửu Long thành một địa bàn văn hóa phát triển rực rỡ. Nhưng sau đó một cách đột ngột, nền văn hoá này bị tiêu diệt.
          Có nhiều cách giải thích sự biến mất của cư dân Oc Eo vào thế kỷ VI. Một cách lý giải được nhiều học giả trước đây thừa nhận: đó là một cuộc chiến của người Chân Lạp từ phía tây tràn xuống cướp bóc và tiêu diệt cư dân Oc Eo. Nhưng cách lý giải này chưa đủ thuyết phục bởi lẽ những bằng chứng khảo cổ cho thấy không có vết tích của những đổ vỡ do cướp phá, tại thủ phủ Oc Eo những vật quý hầu như còn nguyên vẹn cho đến khi L. Malerete phát hiện. Một cuộc xâm lăng trên quy mô lớn nếu không chiếm đất cướp của thì với mục đích gì? Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất cho thấy cuộc xâm lăng chưa từng xảy ra là: vào thời điểm giữa thế kỷ VII, nước biển đã dâng cao trên phần lớn đồng bằng thời gian dài 30 năm khiến không ai sống nổi.
          Sau năm 665 nước biển bắt đầu rút. Nhưng phải 500 năm sau, cho đến năm 1.150 nước biển mới trở lại ổn định ở mức bình thường. Như vậy có thể suy ra: cho tới giữa thế kỷ XII, đồng bằng Nam Bộ chưa có người sinh sống. Điều này phù hợp với thư tịch cổ. Trong Chân Lạp phong thổ ký , ông Châu Đạt Quan sứ thần nhà Nguyên đến Chân Lạp qua đường sông Tiền năm 1296 mô tả: "Hầu hết cả vùng đều là rừng sác rậm rạp, những vàm rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm lý, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú ẩn sum suê. Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi... Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy rẫy. Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng họp từng bầy trong vùng này. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre gai chạy dài hàng trăm lý..." Như vậy, nhìn vào lịch sử, đồng bằng sông Cửu Long do đất mới bồi và thấp đã bị nạn hồng thủy xóa đi sự sống của con người trong vòng sáu, bảy trăm năm. Từ năm 1150 nước rút trở lại mức độ bình thường cho đến năm 1950. Nhưng từ 1950 hình như đã bắt đầu một chu trình hải xâm mới! Mực nước đo được ở Hòn Dáu Hải Phòng trong 30 năm qua đã tăng lên hơn 30 cm.
          Cả bằng chứng lịch sử cả bằng chứng địa chất cho thấy: hải xâm Hôlôxen IV đã dìm đồng bằng sông Cửu Long hàng trâm năm trong nước biển và xoá đi nền văn minh Oc Eo.
          Một câu hỏi tất yếu phải được đặt ra: điều gì đang chờ đồng bằng sông Cửu Long trong thế kỷ này? Hay nói cách khác: người đồng bằng sông Cửu Long học được gì từ sự huỷ diệt của người Oc Eo ?
          Từ kinh nghiệm lịch sử và từ những công trình nghiên cứu khoa học, chúng ta khẳng định một điều là: trận hồng thủy mới đang tới gần. Trong khoảng 50 đến 100 năm nữa, phần lớn đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng bị nước nhấn chìm. Điều gì sẽ xảy ra lúc đó? Phải nói rằng chưa ai trong chúng ta hình dung ra một kịch bản như vậy và trong chúng ta cũng không mấy ai nghĩ đến một điều khủng khiếp như thế sẽ xảy ra! Dù chúng ta có nhắm mắt lại thì thảm họa sinh thái đó vẫn đến. Dù vô tình dù chẳng vô tình, thiên nhiên vẫn vận hành theo quy luật của nó!
Có một điều mà chúng ta Homo Sapiens - loài người thông minh - phải nghĩ sao và hành động sao trước tai hoạ này?
          Có một điều không khỏi bức xúc là dù hơn chục năm trước, các nhà khoa học thế giới cảnh báo nguy cơ này và trong thời gian đó, nhiều nhà khoa học trong nước cũng dóng chuông báo động nhưng đáng ngạc nhiên là trên phương diện quản lý vĩ mô, chưa hề thấy Nhà nước phản ứng gì trước những tiếng chuông báo động đó!
          Có thể nói rằng những việc chúng ta đang làm cho đồng bằng sông Cửu Long như kênh tưới kênh tiêu, xây dựng những điểm dân cư thoát lũ... chỉ là những giải pháp tình thế mà chưa căn cơ chưa mang tính chiến lược lâu dài. Chương trình Ngọt hoá bán đảo Cà Mau được triển khai rầm rộ nhưng không hiệu quả, 1500 tỷ đồng hoá thành nước lã trôi ra biển! Chương trình ngăn mặn cửa sông Ba Lai bộc lộ những mặt tiêu cực: thông nước cho nơi này nhưng lại gây ngập úng tù đọng ở nơi khác và môi sinh của vùng nước lợ bị hủy hoại gây hậu quả không lường! Mặc dù tốn rất nhiều tiền bạc và công sức nhưng chúng ta chưa nghĩ tới một điều là: tất cả những công trình đó sẽ vô nghĩa một khi nước biển dâng lên, chỉ cần 50 cm!
          Một nghìn năm trăm năm trước, đối mặt với đại hồng thuỷ, khoảng một triệu người Oc Eo làm một cuộc di tản lớn ra các đảo ngoài khơi! Điều này buộc ta phải nghĩ : tới giữa thế kỷ này, khoảng 10 triệu dân đồng bằng sông Cửu Long sẽ đi đâu để tránh nước dâng ? Một câu hỏi không dể trả lời nhưng cũng không thể không trả lời. Càng không thể nói quên đi !
          Thiết tưởng đã đến lúc chúng ta nghiêm túc ngồi lại bàn chuyện này như một chương trình cấp quốc gia. Tương lai học là môn học cực khó nhưng những bài học từ nó giúp chúng ta ít ra là một cái hướng để đi tới. Cái định hướng ấy trước hết khẳng định một điều đau đớn là: một bộ phận đồng bằng sẽ bị chìm trong nước. Nhưng không chỉ thế mà phải chỉ ra trên một bản đồ dự báo: vùng nào ngập trước vùng nào ngập sau, diện tích bao nhiêu, số dân bao nhiêu?… Một khi biết những vùng nào chẳng bao lâu sẽ trả về cho nước, chúng ta sẽ biết cách đầu tư sao cho hiệu quả, tránh xây dựng những công trình kiên cố vững bền quá mức cần thiết và cũng lo cả phương án chủ động di tản hàng triệu người.
          Mối lo khác:  khi 4 triệu hecta đất nông nghiệp ở hai vùng châu thổ mất đi, có nghĩa là hai bồ lúa hai đầu đòn gánh xẹp đi, lấy gì để nuôi hơn một trăm triệu người lúc đó? Những câu hỏi như vậy quả không dễ trả lời. Nhưng nó cho ta gợi ý. Tôi nhìn về cứu cánh là miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Người Oc Eo ra biển nhưng người của đồng bằng sông Cửu Long sẽ lên miền Đông, lên Tây Nguyên. Nới đấy trong tương lai không chỉ là chốn dung thân của hàng triệu người mà còn là nơi làm ra luơng thực nuôi sống phần lớn dân cư. Từ cách nhìn đó, ta càng thấy vai trò vô cùng to lớn của miền Đông và tây Nguyên trong tương lai. Và để tạo chỗ dung thân của hàng triệu người Nam Bộ, chúng ta phải có phương cách đối xử  trân trọng, thông minh với Tây Nguyên mà công việc thiết yếu đầu tiên là phải trồng lại rừng đảm bảo độ phì nhiêu của đất, nguồn nước cho sinh hoạt cùng kinh tế. Khi phần lớn đất làm lúa nước không còn, những giống cây chịu hạn sẽ là nguồn cung cấp lương thực quan trọng. Lúc đó giống cây trồng rồi tập quán canh tác cũng khác. Khoa học nông nghiệp sẽ đáp ứng thế nào cho một tương lai như vậy?
          Nói những điều trên vào lúc này không khỏi có người cho là lo bò trắng răng. Nhưng nhân vô viễn lự họa đáo cận thân! Họa sẽ đến gần nếu không biết lo xa.

 Tân Bình 4/2003

4 tháng 5, 2012

ĐỊA DANH VƯỜN ÔNG HUỀ

Dương Văn Triêm

Vườn Ông Huề là tên gọi của một khu vực không có ranh giới rõ ràng, trước thuộc ấp Mỹ Quới, thôn Mỹ Trà, nay thuộc ấp 2, xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh. Khu vực tính từ nơi giao nhau giữa đường Nghĩa địa nhân dân thành phố Cao Lãnh với đường sông Bà Vại, chạy vào khoảng 2 – 3 cây số dọc theo lộ cái.
Địa danh “Vườn Ông Huề” là tên một vùng đất được kết hợp bởi thành tố: danh vườn (danh từ chung) và Ông Huề (danh từ riêng – chỉ người)
* Ông Huề, viết đầy đủ là Dương Văn Huề (1885 – 1946), còn có thời gian xưng là Phạm Văn Huề. Nhưng Phạm không phải là họ gốc, ông sử dụng họ Phạm vì một lý do chính trị ([1]), quê ở thôn Mỹ Trà - tổng Phong Thạnh -  huyện Kiến Phong -  phủ Kiến Tường - tỉnh Định Tường ([2]), nay thuộc ấp 2 - xã Mỹ Trà - thành phố Cao Lãnh - tỉnh Đồng Tháp, thân sinh của ông là Dương Văn Du (? – 1942) và bà Đồ (? – ?).
          Ông là một nông dân cần cù, chịu khó. Từ người đi bạn (đi làm thuê, mướn), ở đậu trên đất người khác, trở thành chủ vườn cây ăn trái, rồi mua ruộng đất ở khắp Cao Lãnh: Phong Mỹ, Phường 11, Phương Trà, Mỹ Trà, rạch Ông Hổ - Mỹ Tân, số lượng trên 100 công.
* Vườn, ở đây là vườn cây ăn trái của ông Huề, được thành lập vào năm 1940.
Chuyện thành lập khu vườn khởi đầu từ việc ông Huề đi bạn, theo các ghe chài mười ([3]) của bạn hàng buôn, câu chuyện như sau:
Một hôm, trên ghe chài có người mua ổi cúng tổ, để lâu ổi bị nắng làm khô, ông Huề lấy hạt đem về gieo. Sau một thời gian, cây ổi có thu hoạch. Thấy có lợi nhuận, ông Huề xin với chủ đất, nơi ông cất nhà ở đậu là ông Phạm Văn Đá bán chịu một mảnh đất để lập vườn. Thấy ông Huề là người biết tu chí làm ăn nên ông Đá đồng ý.
Phần đất, ông Huề mua, chỉ là vùng đất trũng, muốn trồng cây, phải được đào mương, lên liếp… Ông Huề bắt tay vào việc, ngoài thêm mướn nhân công, thì ông đã một thân, một mình với chiếc xuồng lường ([4]). Hằng ngày, chở từng xuồng đất ngoài ruộng để bồi đắp.
Khi thành hình, vườn có diện tích 1,3 ha và có chiều rộng dọc theo dòng sông 130 m. Ông Huề làm 3 vòng rào, để bảo vệ: vòng ngoài được bao bọc bằng tre gai; vòng thứ hai là hàng rào mây; vòng sau cùng là các mương nước lớn.
Bên trong mương nước lớn là những mương nước nhỏ, được bố trí thành hình bàn cờ. Sau một thời gian, phần thuê nhân công, phần bỏ công nhà, số lượng mương, quanh khu vườn đã chi chít. Trung bình mỗi mương dài từ 50 – 70 m, rộng từ 5 – 7 m, các mương bao lấy khu vườn theo hướng đông, tây, nam, có bán kính từ 500 – 1000m, (tính từ trung tâm của khu vườn).
Trong mỗi ô bàn cờ trồng các loại cây: cam, xoài, quít, dừa, ổi thêm một số ít cây thuốc và cây kiểng.
Xung quanh khu vườn được ông Huề cho đào thêm mương, vừa để làm thêm rào bảo vệ, vừa thu được nguồn lợi từ con cá, khi mùa nước rút.
Trái cây vườn, được ông Huề đem bán ở chợ Cao Lãnh và một số nơi khác quanh vùng…Do đây là khu vườn cây ăn trái được thành lập đầu tiên ở vùng đất trũng thấp của xã Mỹ Trà, trong khung cảnh, xung quanh là hoang sơ và không ai có được khu vườn như thế, với cây trái, ăn quả là đặc sản và hệ thống rào bảo vệ độc đáo. Tiếng đồn về khu vườn của ông Huề ngày một vang xa. Dần dần có nhiều người nghe tiếng, chủ động tìm đến tham quan và mua cây trái. Nên cái tên vườn cây ăn trái của ông Dương Văn Huề gọi tắt “Vườn Ông Huề” được người đời truyền miệng nhau mãi – thành danh.
Vườn phát triển được một thời gian thì đi vào hoang hóa. Vì kể từ năm 1946, khi ông Huề mất (1*), cộng thêm chiến tranh con cháu bỏ đi hết. Cây trái không người trông nôm, phần bị chết do bom đạn, phần bị già chết…
Trong kháng chiến chống Mỹ, thị xã ủy Cao Lãnh và các xã Mỹ Trà, Mỹ Ngãi, Tân An đã lợi dụng hệ thống rào sẵn có ở khu vườn của ông Dương Văn Huề, rồi đấp thêm công sự, làm hầm chông, cài mìn, lựu đạn… để biến nơi đây thành nơi liên lạc, hoạt động, nghỉ ngơi của một số cơ quan đơn vị bộ đội. Từ đó cái tên Vườn Ông Huề trở thành quen thuộc đối với cán bộ, du kích địa phương.
Do đặc điểm và tính chất của khu vườn như thế nên đó đã trở thành tâm điểm, chú ý của ngụy quân ở Cao Lãnh. Chúng tổ chức các cuộc càn quét vào đây, phần lớn đều thảm bại, trước một địa hình phức tạp với nhiều mương nước lớn nhỏ chằng chịt, cây cối sầm uất, lại thêm hầm chông, bãi mìn, lựu đạn…
Tháng 3 năm 1961, ngụy mở trận càn nhằm vào khu căn cứ Vườn Ông Huề,. Đoán được âm mưu đó, không cho địch tiến sâu hơn, ta chủ động chặn đánh chúng tại ngã ba rạch Vong, rạch Bà Mụ. Với lối đán chủ động, linh hoạt, ta đã bẻ gãy được trận càn và bắt sống được chỉ huy giặc là đại úy Nguyễn Lương Tri, phó tỉnh trưởng kiêm tỉnh đoàn trưởng Bảo An.
Suốt trong thời gian kháng chiến chống Mỹ, dù bị địch đánh phá ác liệt, bằng các cuộc càn quét, bom đạn, đóng đồn lấn chiếm, song căn cứ Vườn Ông Huề vẫn đứng vững, vẫn là nổi ám ảnh, lo sợ của bọn lính ngụy Cao Lãnh cho tới ngày giải phóng.
Như vậy, địa danh Vườn Ông Huề trở thành tên gọi trãi qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1, trong thời Pháp thuộc vườn nổi tiếng với nhiều loại cây trái ngon. Giai đoạn 2, trong kháng chiến chống Mỹ vườn nổi tiếng với căn cứ cách mạng làm cho ngụy quân ăn không ngon, ngủ không yên.
Quá khứ đã trôi qua, nhưng âm vang của Vườn Ông Huề vẫn còn. Ngày nay, cái tên Vườn Ông Huề đã trở thành một địa danh quen thuộc. Nó còn được chính quyền địa phương dùng để đặt tên cho một số công trình: ngã ba Vườn Ông Huề, đường Vườn Ông Huề, cầu Vườn Ông Huề.
Khu vực Vườn Ông Huề ngày nay dân cư khá đông, có điện có đường bộ nối liền từ Mương Khai vào và thông ra đình Cả Môn. Khu vườn xưa nay cây cối còn ít, phần lớn đã trở thành ruộng lúa. Trong tương lai không xa các con đường được trãi nhựa và tại Vườn Ông Huề sẽ dựng bia di tích căn cứ kháng chiến của thị xã ủy Cao Lãnh.


PHỤ LỤC
1. Con của ông Dương Văn Huề
(*) Bà Trần Thị Nhờ hạ sinh cho Huề được 9 người con, con thứ: 3, 5, 6, 9, 10 là trai, còn lại là gái.
Con thứ hai: Dương Thị A (? - ?), là con nuôi.
Con thứ ba: Dương Văn Kỉnh (1926 - 1975)
Con thứ tư: mất lúc nhỏ, chưa rõ họ tên
Con thứ năm: mất lúc nhỏ, chưa rõ họ tên
Con thứ sáu: Dương Ngọc Ẩn (1931 - 2008)
Con thứ bảy: Dương Thị Tranh (? - ?)
Con thứ tám: Dương Thị Lai (1933)
Con thứ chín: Dương Ngọc Châu (1938 - 1963), là liệt sĩ thời kháng chiến chống Mỹ, hi sinh trong một đợt chống càn, tại vườn ông Huề.
Con thứ mười: Dương Ngọc Niệm (1940 - 1972)    

2. Về nguyên nhân cái chết của ông Huề
Vào năm 1946, ông đột ngột qua đời… về nguyên nhân cái chết của ông, bắt nguồn từ người con trai thứ năm – Dương Văn Luận, có bí danh Tấn Bửu. Bửu là một người nghiện cờ bạc, lúc không tiền đánh bạc thường về nhà gây áp lực với gia đình. Có lần về nhà xin tiền mẹ (Trần Thị Nhờ), nhưng bà không cho vì lý do cờ bạc phung phí, Bửu đã dùng súng ([5]) kề cổ mẹ, bà Nhờ sợ nên đưa. Việc đến tai ông Huề, ông Huề đã có phản ứng mạnh về hành động sai trái của con. Ôm hận trong lòng, Bửu mách với chính quyền và vu oan rằng, cha mình là người theo Hòa Hảo, chống phá cách mạng.
Sau đó, ông Huề đã bị bắt và bị xử tử tại vườn nhà, mộ của ông, nằm trong khuôn viên của vườn, trước 1975 là mộ đất, từ sau năm 1975 mộ được con cháu nâng cấp lên thành mộ đá và xây dựng thêm Phủ thờ ([6]) để ghi nhớ công sức của ông đã bỏ ra cho dòng họ và quê hương.

3. Khuôn viên vườn ông Huề hiện nay
Từ sau năm 1975, khuôn viên vườn được phục hồi nhưng chỉ là vườn cây lấy gỗ.
Hiện nay, diện tích của vườn đã thay đổi rất nhiều:
- Một phần, trở thành đất thổ cư của cháu nội, cháu cố ông: Dương Văn Giúp (cháu nội - số nhà 46); Dương Văn Phong (cháu nội - số nhà 45); Dương Thị Giàu (cháu cố).
- Một phần, hai cháu nội trai của ông đã dùng xe cơ giới sang bằng làm đất trồng lúa.
- Phần nhỏ còn lại ở trung tâm vườn là khu vực Phủ, thờ vợ chồng ông Huề, 4 ngôi mộ. Trong đó 2 ngôi mộ là của ông Dương Văn Huề và vợ Trần Thị Nhờ; 2 ngôi mộ còn lại của con trai thứ 3, Dương Văn Kỉnh và vợ Đặng Thị Cảnh.
- Số cây trái còn lại trong vườn, không nhiều lắm: vài cây ăn trái, tre, gáo và cây cỏ.

* Nguồn phỏng vấn con cháu ông Dương Văn Huề:
Lê Văn Đang, Dương Văn Giúp, Dương Ngọc Bé, Bùi Thị Te, Phạm Thị Khuya
* Nguồn khảo sát thực địa vườn ở ấp 2 xã Mỹ Trà.



[1] Có thời gian, những người theo họ Dương bị tình nghi và qui là theo Hòa Hảo chống cách mạng. nên ông Huề đổi thành họ Phạm để tránh những rắc rối. Họ Phạm có từ đời Dương Văn Du.
[2] Đến năm 1869, Pháp đổi lại tên lục tỉnh và đơn vị phủ thành hạt nên lúc đó Mỹ Trà thuộc hạt Cần Lố - tỉnh Vĩnh Long. Năm 1870 Hạt Cần Lố bị giải thể, tổng Phong Thạnh của huyện Kiến Phong sáp nhập vào hạt Châu Đốc -  huyện Tịnh Biên -  tỉnh Châu Đốc.
[3] Ghe chài có trọng tải 10 tấn.
[4] Người ta dùng một thân gỗ lớn tạo dáng như xuồng Cần Thơ và khoét ruột.
[5] Có nguồn nói là dùng dao, ở đây sử dụng nguồn theo ý kiến số đông và tác giả cho là đúng nhất.
[6] Phủ vách gạch, lợp ngói âm dương, nền gạch tàu, rộng 2,52m * 2,52m. Cột trước cao 2,02m, cột sau 2,08m, cột nóc 2,75m.

22 tháng 4, 2012

TÌM HIỂU HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT Ở NAM BỘ XƯA

TS. Phạm Phúc Vĩnh


Cách đây hơn 40 năm, xe lửa đã từng là một loại phương tiện đi lại và vận chuyển hàng hóa quen thuộc của nhân dân nhiều tỉnh Nam bộ. Ngày nay, trừ Sài Gòn – Đồng Nai, việc đi lại và vận chuyển hàng hóa giữa Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ khác bằng hệ thống giao thông đường sắt không còn nữa. Những gì còn sót lại của các tuyến đường sắt này là vài cây cầu sắt trơ móng và những kí ức phai mờ về những chuyến xe lửa với những hồi còi kéo dài hối hả đi về của người dân Nam bộ.
Nam bộ thời Pháp thuộc, nhiều thành tựu văn minh phương Tây được du nhập vào sớm hơn các nơi khác trong cả nước. Việc xây dựng, sử dụng và mở rộng hệ thống giao thông đường sắt ở Nam bộ cũng không ngoại lệ.
Để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã xây dựng và đưa vào khai thác 3 tuyến đường sắt ở Nam bộ.
TUYẾN ĐƯỜNG SẮT THỨ NHẤT: SÀI GÒN – MỸ THO
Đầu năm 1881, thực dân Pháp đầu tư 11.652.000 Francs để xây dựng thí điểm 71km đường sắt đầu tiên nối liền hai thành phố lớn: Sài Gòn – Mỹ Tho.  Đây là tuyến đường sắt được Pháp cho xây dựng đầu tiên ở Việt Nam.
Tháng 7 năm 1882, đoạn đầu tiên của tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho nối Sài Gòn với Chợ Lớn dài 5km hoàn thành. Trong khi toàn tuyến chưa thể đưa vào khai thác, thực dân Pháp đã mở tuyến tàu điện Sài Gòn – Chợ Lớn cùng chạy song song với tuyến đường sắt này. Đến ngày 20 tháng 7 năm 1885, toàn bộ tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho hoàn thành và tuyến xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho cũng bắt đầu được chính thức đưa vào khai thác.
TUYẾN ĐƯỜNG SẮT THỨ HAI: SÀI GÒN – XUÂN LỘC – GIA RAY
Sau một thời gian đưa vào khai thác, tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Kết quả đó đã thúc đẩy chính quyền Pháp tính đến một kế hoạch xây dựng một hệ thống đường sắt lớn hơn.
Ngày 20 tháng 12 năm 1898, Pháp đã thông qua kế hoạch mở tuyến đường sắt xuyên Việt. Theo kế hoạch này, toàn tuyến đường sắt sẽ được xây dựng từng phần; mà trước hết là bắt đầu từ Hà Nội làm dần vào Nam và từ Sài Gòn làm dần ra Bắc, sau đó tiếp tục mở các tuyến ngắn nối các trung tâm lớn ở các tỉnh miền Trung rồi kéo dài và nối liền thành một hệ thống xuyên suốt Bắc – Nam.
Năm 1901, thực dân Pháp bắt đầu khởi công xây dựng đoạn đường sắt đầu tiên của tuyến đường sắt xuyên Việt từ Sài Gòn ra Bắc. Đoạn này dài 81km nối liền Sài Gòn với Xuân Lộc (nay thuộc thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai). Ngày 14 tháng 1 năm 1904, 71km đường sắt đầu tiên của tuyến Sài Gòn – Xuân Lộc đã hoàn thành và đưa vào khai thác trước. Đến ngày 30 tháng 10 năm 1904, phần còn lại của tuyến đường này (dài 10km) cũng đã hoàn thành và đưa vào khai thác.
Sau khi tuyến Sài Gòn – Xuân Lộc đi vào hoạt động, thực dân Pháp cho xây dựng nối dài thêm 18 km nữa đến Gia Ray (nay thuộc xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai). Đến ngày 25 tháng 8 năm 1905 thì hoàn thành và đưa vào khai thác.
Như vậy, đến tháng 8 năm 1905, tuyến đường sắt thứ hai ở Nam bộ dài 99km Sài Gòn – Xuân Lộc – Gia Ray đã hoàn thành và đưa vào khai thác. Sau đó, tuyến này trở thành một phần của tuyến đường sắt xuyên Việt và cho đến nay nó là một phần của tuyến đường sắt Bắc - Nam.
TUYẾN ĐƯỜNG SẮT THỨ BA: SÀI GÒN – LỘC NINH
Trong khi đường sắt xuyên Việt sắp được hoàn thành, thực dân Pháp tiếp tục cho xây dựng thêm ở Nam bộ tuyến đường sắt thứ ba nối liền Sài Gòn với Lộc Ninh nhằm phát triển các đồn điền cao su ở miền Đông Nam bộ.
Năm 1933, Pháp bắt đầu khởi công đoạn đầu tiên của tuyến này từ Lộc Ninh đến Bến Đồng Sở và đưa vào khai thác trước. Sau đó tiếp tục làm đoạn từ Bến Đồng Sở đến Sài Gòn đến năm 1942 (có sách viết là năm 1950) thì hoàn thành và đưa vào khai thác toàn tuyến. Đây là tuyến đường sắt thứ 3, cũng là tuyến đường sắt cuối cùng mà thực dân Pháp xây dựng ở Nam bộ.
Ngoài ba tuyến đường sắt trên, thực dân Pháp còn có dự định mở rộng hệ thống đường sắt ở miền Tây Nam bộ trên cơ sở kéo dài tuyến Sài Gòn – Mỹ Tho xuống Vĩnh Long rồi chia làm hai tuyến:
- Vĩnh Long – Long Xuyên – Châu Đốc – Phnom Penh (Campuchia).
- Vĩnh Long – Cần Thơ – Bạc Liêu
Tuy nhiên, do gặp khó khăn về tài chính, địa hình phức tạp... nên thực dân Pháp không thể triển khai và đến năm 1954, sau Hiệp định Genève, Pháp phải rút về nước.
Sau 1954, hệ thống đường sắt ở Nam bộ vẫn tiếp tục được chính quyền Sài Gòn khai thác. Tuy nhiên do chiến tranh, hoạt động của các tuyến vận tải đường sắt này bị gián đoạn liên tục, hiệu quả khai thác không cao, thua lỗ và cuối cùng phải lần lượt ngừng hoạt động:
- Năm 1959, tuyến Sài Gòn – Mỹ Tho ngừng hoạt động hoàn toàn.
- Năm 1964, tuyến Sài Gòn - Lộc Ninh cũng phải ngừng hoạt động.

Như vậy, hệ thống đường sắt ở Nam bộ chỉ còn lại tuyến Sài Gòn - Xuân Lộc – Gia Ray thuộc tuyến đường sắt Bắc - Nam là vẫn còn hoạt động, còn lại hai tuyến Sài Gòn – Mỹ Tho, Sài Gòn – Lộc Ninh thì ngay cả những dấu vết còn lại của chúng giờ đây cũng không còn nhiều. Cách đây vài năm, ở Tân An (Long An) còn sót lại cây cầu sắt nhưng giờ cũng đã bị tháo gỡ chỉ còn lại hai móng ở hai đầu cầu, hầu hết hệ thống đường ray và cầu sắt của hai tuyến này cũng bị dỡ bỏ.

12 tháng 4, 2012

CÁC KHO SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM TRƯỚC THẾ KỶ XIX

                                                                          Nguyễn Tô Lan

Thư tịch kí tái thành tựu phát triển của mỗi dân tộc và là một trong những nguồn tư liệu quý giá bên cạnh bằng chứng về dân tộc học, khảo cổ học v.v… để phục dựng diện mạo dân tộc đó. Cũng như vậy, thư tịch Hán Nôm - sách vở được biên soạn bằng chữ Hán và chữ Nôm của người Việt Nam là bộ phận quan trọng trong văn hiến của dân tộc Việt Nam.
Hệ thống thư tịch này chuyên chở văn hóa Việt Nam thời phong kiến với hơn 10 thế kỉ có số lượng đồ sộ và nội dung phong phú. Từ khi đất nước bước vào kỉ nguyên độc lập cho đến nay, dân tộc Việt Nam đã đời này qua đời khác nối tiếp nhau tiến hành các hoạt động sưu tầm, thu thập, lưu trữ, nhân bản, phân loại v.v… thư tịch Hán Nôm nhằm bảo vệ và lưu truyền kho di sản này của dân tộc. Vì vậy, ngay từ sớm các kho lưu trữ thư tịch (kho sách) đã được xây dựng. Đáng tiếc thông tin về những kho sách này rất ít ỏi, nhất là những kho sách do các triều đại trước thế kỉ XIX (trước triều Nguyễn) thành lập. Bài viết mong muốn cung cấp một số thông tin dù rất ít ỏi về những kho sách này.
1. Đời Lý (1010 - 1225)
Trong giai đoạn đầu của chế độ phong kiến Việt Nam, nhà Đinh (968 - 980) và nhà Tiền Lê (980 - 1009) ngoài việc củng cố quốc phòng, phát triển kinh tế đã chú trọng giáo hóa và ra sức truyền bá đạo Phật, phát triển Đạo giáo. Có cơ sở từ trong thời kỳ Bắc thuộc với trung tâm Phật giáo Luy Lâu, tầng lớp tăng lữ Việt Nam lúc bấy giờ phát triển mạnh với số lượng đông đảo. Đây cũng chính là đội ngũ trí thức tham gia vào công việc điều hành đất nước(1), hơn nữa cũng là tầng lớp có tiếng nói quan trọng trong các quyết định của triều đình. Chùa chiền được xây dựng khắp nơi. Nam Việt Vương Đinh Liễn đã cho xây 100 tòa bảo chàng(2) tại Hoa Lư. Những điều này khiến ta có thể tin rằng giai đoạn này cũng có thể có cơ sở cho sự tồn tại của những cơ sở tàng trữ thư tịch ít nhất là thư tịch Phật giáo trong các tự viện(3). Tiếc là hiện nay không còn dấu tích cũng như tài liệu nào ghi chép về những nơi như thế. Sau khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, nhà Lý đã tập trung xây dựng chính quyền phong kiến, đây chính là thời kỳ mà dấu vết của những thư viện đầu tiên được ghi chép lại.
Kho kinh Trấn Phúc: Theo Việt sử lược năm Tân Hợi (1011) dưới triều vua Lý Thái Tổ: “… ở trong thành xây cung Thái Thanh, chùa Vạn Tuế, nhà chứa kinh Trấn Phúc…”(4) Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư năm 1011: “… ở trong thành bên tả dựng cung Đại Thanh, bên hữu dựng chùa Vạn Tuế, làm kho Trấn Phúc”(5). Nếu theo mạch lạc của câu văn thì kho này thuộc về chùa Vạn Tuế, có khả năng được dùng làm nơi chứa kinh sách Phật giáo như Việt sử lược đã chép. Chưa rõ nhà chứa kinh này chứa kinh gì và trữ lượng bao nhiêu.
Kho Đại Hưng: Sử chép, vào năm 1018 đời vua Lý Thái Tổ: “Mùa hạ, tháng 6, sai Viên ngoại lang là Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước Tống xin kinh Tam tạng”(5). Sau đó hai năm đến “Mùa thu, tháng 9, Nguyễn Đạo Thanh đi sứ về, xin được kinh Tam tạng; xuống chiếu cho Tăng thống là Phí Trí sang Quảng Châu đón”(6). Đến năm 1023, “Mùa thu, tháng 9, xuống chiếu chép kinh Tam tạng để ở kho Đại Hưng.”(7) Hiện vẫn chưa rõ địa điểm kho này ở đâu, chỉ biết nó lưu trữ bản chép lại bộ kinh Tam tạng xin được từ nhà Tống.
Nhà Bát giác: Năm Tân Dậu (1021) vua Lý Thái Tổ sai “làm nhà Bát giác chứa kinh”(8). Việc này xảy ra sau khi đã đem được bộ kinh Tam tạng về từ Trung Quốc. Chúng tôi cho rằng đây chính là nơi lưu trữ bộ kinh này. Sau này, bộ kinh Tam tạng được chép lại, bản chép lại được giữ ở kho Đại Hưng.
Kho Trùng Hưng: Năm 1034 dưới triều vua Lý Thái Tổ, “Mùa thu, tháng 8, vua ngự đến chùa Trùng Quang núi Tiên Du, sai dựng kho Trùng Hưng [để chứa kinh]”(9). Núi Tiên Du ở huyện Tiên Du, nay thuộc huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh còn có tên gọi khác là Phật Tích hoặc Lạn Kha. Ở đây, nhà Lý đã cất pho kinh Đại tạng. Pho kinh này có được là do cùng năm này, vua Lý Thái Tổ đã “sai Viên ngoại lang là Hà Thụ, Đỗ Khoan đem biếu nhà Tống hai con voi thuần. Nhà Tống lấy kinh Đại tạng để tạ”(10). Đến năm 1036, “tháng 2, xuống chiếu chép kinh Đại tạng cất ở kho Trùng Hưng”(11). Như vậy, kho Trùng Hưng là một bộ phận của chùa Trùng Quang, chuyên để chứa kinh Đại tạng do triều đình sai người chép từ bộ kinh được nhà Tống tặng.
Kho sách của Quốc tử giám: Năm 1070, vua Lý Thánh Tông sai dựng Văn miếu ở Thăng Long(12), đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông “chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc tử giám”(13). Như vậy, ít nhất là đến 1076 Quốc tử giám đã đi vào hoạt động với tư cách là trường học do nhà nước thành lập. Cùng với việc bắt đầu thi Minh kinh Bác học và thi Tam trường vào năm 1075, việc thi cử theo lối Nho học dần dần được phổ biến. Chúng ta có cơ sở để tin rằng tại Quốc tử giám ít nhất cũng lưu trữ một số bộ kinh điển Nho học để phục vụ trực tiếp cho việc học hành và thi cử(15).
Bí thư các và Hàn lâm viện: Sử chép, năm 1086 “Mùa thu, tháng 8, thi người có văn học trong nước, sung làm quan ở Hàn lâm viện, Mạc Hiển Tích trúng tuyển, bổ làm Hàn lâm học sĩ”(16). Năm sau 1087, “Mùa xuân, tháng 3, dựng Bí thư các”(17). Đây là hai cơ quan mà các triều đại phong kiến thường tập trung giấy tờ sách vở của triều đình. Nhất là Bí thư các vốn là nơi lưu giữ các bản khắc và in sách đã được vua ngự lãm. cho phép lưu hành. Do vậy, rất có khả năng dưới thời Lý, hai nơi này cũng đã lưu trữ thư tịch.
2. Đời Trần (1225 - 1400)
Quốc tử viện, Quốc học viện, Quốc sử viện, Bí thư các: Tháng 10 mùa đông năm 1236, vua Trần Thái Tông “cho Phạm Ứng Thần làm Thượng thư tri Quốc tử viện, đưa con em văn thần và tụng thần vào học”(18), đến tháng 9 lại “vời nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng tứ thư, lục kinh”(19). Bên cạnh Quốc tử viện là Quốc học viện được thành lập vào tháng 6 năm 1253(20). Hai nơi này được thành lập để cho con em quí tộc triều Trần học tập. Hai cơ quan này đồng thời cũng là nơi có tàng trữ thư tịch, phần lớn là dành cho việc học tập và giảng dạy(21).
Bên cạnh hai viện này, triều Trần còn thiết lập Quốc sử viện để thúc đẩy việc biên soạn sách sử như các bộ sử ký, thực lục v.v…(22) của triều đình và những thư tịch liên quan. Sử quan Lê Văn Hưu, người chấp bút Đại Việt sử ký toàn thư cũng chính là một thuộc quan của cơ quan này(23). Vì vậy, bên cạnh chức năng biên soạn, Quốc sử viện ắt cũng là nơi lưu trữ các tư liệu để viết sử.
Bí thư các dưới đời Trần tiếp tục là nơi lưu trữ các giấy tờ của triều đình. Thư tịch được biên soạn dưới triều Trần cũng đã phong phú hơn, có các trước tác ở nhiều lĩnh vực như y học, quân sự, triết học, sử học v.v… Bí thư các đồng thời cũng là nơi nhà nước cho xuất bản hoặc tái bản những thư tịch được phép lưu hành trong cả nước.
Kho kinh ở phủ Thiên Trường: Sử chép, vào năm Ất Mùi, năm thứ 3 đời vua Trần Anh Tông, “Mùa xuân, tháng 2, ngày mồng 1, sứ Nguyên Tiêu Thái Đăng sang. Vua sai Nội viên ngoại lang Trần Khắc Dụng cùng đi theo, nhận được bộ kinh Đại tạng đem về để ở phủ Thiên Trường, in bản phó để lưu hành.”(24) Như vậy, vào đời Trần lại xuất hiện một cơ sở lưu trữ kinh Đại tạng xin về từ Trung Quốc, hơn nữa lại in thêm bản khác để lưu hành. Có thể thấy hoạt động in ấn ở triều Trần đã có bước tiến rõ rệt. Khác với đời Lý khi đem kinh Đại tạng về, chỉ cho sai chép thêm một bản cất vào kho. Dưới triều Trần, có nhiều bộ sách về tôn giáo đã được in ấn và phát hành trong cả nước như Phật giáo pháp sự, Đạo tràng tân văn, Công văn cách thức(25) v.v… Như thế, có lẽ không chỉ ở Thiên Trường - đất thang mộc của triều Trần mà còn có những nơi lưu trữ và in ấn kinh sách khác trong cả nước.
Thư viện Hoàng gia ở núi Lạn Kha: Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, phần lời chua của sử quan triều Nguyễn có chép: “Cung Bảo Hòa: Ở núi Lạn Kha (nay đổi là Phật Tích), huyện Tiên Du. Theo sách An Nam chí của Cao Hùng Trưng đời Minh, nhà Trần có dựng ra Lạn Kha thư viện, dùng danh nho Trần Tôn làm viện trưởng, dạy các sinh đồ. Nhà vua thường đến chơi. Vậy cung Bảo Hòa là ở đó”(26). Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì cũng chính tại đây vào mùa xuân tháng 2 năm 1384, Thượng hoàng cho thi Thái học sinh ở chùa Vạn Phúc núi Tiên Du, cũng chính là nơi dựng cung Bảo Hòa. Đến mùa hạ, tháng 5 lại chọn số Thái học sinh còn lại cho làm thư sử ở cung Bảo Hòa [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr.169-170]. Ta có cơ sở để tin rằng cung Bảo Hòa bấy giờ là một cung của Thái thượng hoàng triều Trần, cung này vừa là nơi Thái thượng hoàng sinh hoạt vừa là một trung tâm văn hóa, nơi tổ chức thi cử lại có các bộ phận biên chép và lưu trữ sách vở. Nhất là sau sự biến năm 1371, Chiêm Thành đem quân vào cướp, tiến thẳng vào thành. “Chúng đốt trụi cung điện, nhà cửa. Thư tịch, sổ sách do vậy mà sạch không.” [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr.154]. Không rõ cung Bảo Hòa được xây dựng từ khi nào, nhưng có thể nói tại thời điểm đó, đây là nơi còn lưu trữ được thư tịch của dân tộc. Chính ở đây, vào tháng 12 năm Quý Hợi (1383) Thái thượng hoàng nhà Trần đã ở đây, sai Thiêm tri Nội mật viện sự Nguyễn Mậu Tiên, Lang trung Bộ Lễ là Phan Nghĩa và gia thần Vũ Hiến hầu ở Tiên Du thay phiên nhau chầu chực. Ban cho ăn và hỏi các việc cũ, ghi chép từng ngày, biên soạn thành 8 quyển, đầu đề là Bảo Hòa dư bút (sách này còn được biết đến với tên Bảo Hòa điện dư bút) gồm 8 quyển, sách do Đào Sư Tích đề tựa ở đầu sách. Sách được làm ra để dạy bảo Quan gia (tức đương kim hoàng thượng).
3. Lê (1428 - 1778)
Quốc tử giám, Sử quán, Bí thư sảnh, Đông các: Quốc tử giám vốn vẫn là nơi tập trung sách vở dành cho việc giảng tập, đồng thời cũng là nơi lưu giữ ván in sách để cấp phát cho các trường học ở cấp phủ, cấp huyện v.v... Như năm 1467: “Ban cấp bản in sách Ngũ kinh của nhà nước cho Quốc tử giám, theo lời tâu của Bí thư giám học sĩ Vũ Vĩnh Trinh” [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr.419]. Cùng với sự quan tâm tới học tập và thi cử dưới thời Lê mà quy mô của Quốc tử giám ngày càng được mở rộng, các định lệ về hoạt động ngày càng đầy đủ và chặt chẽ hơn. Cũng theo đó, số lượng sách và ván in ngày càng nhiều lên. Nếu như vào đầu triều Lê, nhà Thái học vẫn theo quy mô cũ và còn thiếu thốn nhiều thì vào năm Quý Mão (1483) vua Lê Thánh Tông cho sửa rộng thêm ra và “đặt thêm kho Bí thư để chứa ván gỗ đã khắc thành sách” [Đại Nam thực lục, tập 1, tr.1161]. Hiện chưa rõ số sách được lưu trữ tại đây.
Sử quán là cơ quan đặc biệt phát triển dưới thời Lê. Sử quán tập hợp đội ngũ những bậc đại khoa, nhà bác học của triều đình để thực hiện công việc trước tác quốc sử này. Nơi đây vừa là nơi ghi chép những diễn biến của triều đại đương quyền, nơi biên soạn sách sử, vừa là nơi lưu trữ các tài liệu liên quan dùng để làm căn cứ biên soạn sử. Không ngoại trừ, bên cạnh Quốc tử giám, Sử quán cũng là một cơ sở in ấn sách của triều đình. Các bộ sử được liên tục biên soạn, có thể kể đến: năm 1479, vua “Sai Sử quán Tu soạn Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư 15 quyển” [16, tập 2, tr.473] và khi bộ sử này làm xong nó đã được lưu trữ ở nơi đây năm 1483 vua ra sắc dụ cho Thân Nhân Trung, Quách Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Hiệu thư Đào Cử, Đàm Văn Lễ biên soạn các sách Thiên Nam dư hạ tậpThân chinh ký sự [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr.516]; năm 1511, Vũ Quỳnh dâng bộ Đại Việt thông giám thông khảo chép tường tận theo lối kỷ niên các triều đại gồm 26 quyển [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, tr.58]; năm 1519, vua sai Đặng Minh Khiêm biên soạn Đại Việt lịch đại sử ký [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, tr.93] v.v… Từ đó, có thể hình dung được rằng số lượng sách được lưu trữ ở đây là không nhỏ.
Bí thư sảnh nối tiếp Bí thư các những đời trước. Chức năng đầu tiên của Bí thư sảnh triều Lê là nơi lưu trữ thư tịch của triều đình và do triều đình sưu tầm được. Trong niên hiệu Quang Thuận (1460 - 1489) vua Lê Thánh Tông đã nhiều lần ra những lệnh sưu tầm sách vở như lệnh năm 1467 “Ra lệnh tìm kiếm những di cảo thơ văn của cố Hàn lâm Thừa chỉ Học sĩ Nguyễn Trãi” [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr.416]; chiếu tìm kiếm dã sử và các truyện ký xưa nay do các nhà tư nhân cất giữ [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, tr.100]. Khoảng trong những năm niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497) vua lại hạ chiếu cầu những sách còn sót lại đem chứa cất ở Bí các. Trong dịp này có người đem dâng những sách lạ, sách bí truyền, đều được khen thưởng nhiều. Do đó, các sách của đời trước cũng dần dần được đưa ra(27). Sử cũng đã chép về việc các vua đời Lê thường vào đây để xem sách, như vua Nhân Tông, vào Bí thư các xem sách vở, thấy các bản sách của Ức Trai còn sót lại(28). Chức năng thứ 2 của Bí thư các là nơi lưu trữ sách sử do triều đình biên soạn: Trong khoảng năm 1533 - 1662, bộ Bản kỷ tục biên do Phạm Công Trứ cùng các tể thần tham khảo sử cũ để biên soạn đã được cho khắc in, còn sách thì cất giữ ở nơi đây(29) hoặc là nơi nhân bản thư tịch như khi Vũ Quỳnh dâng Việt giám thông khảo lên, vua Lê Tương Dực đã khen là không việc gì là không chép hết và “lại sai bọn Bí thư giám là bọn Hoàng Khu sao chép ra một bản nữa, để truyền lại lâu dài.”(30)
Đông các cũng là nơi chứa thư tịch của triều đình. Đơn cử như những sách sưu tầm được trong dân gian vào khoảng niên hiệu Hồng Đức đã được đưa vào Đông các cất giữ (theo lời sử gia Ngô Sĩ Liên [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, tr.100]). Đồng thời, các nho thần ở Đông các cũng tham gia tích cực vào việc biên soạn các bộ sách lớn của triều đình, có người còn được vua ban cho sách, như năm 1496, Đào Cử được sung làm Hàn lâm viện Thị giảng Đông các Học sĩ được vua ban cho một bộ Thiên Nam dư hạ tập [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr.516].
Thư viện Bồng Lai: Theo Thượng kinh phong vật chí(31) thì tại thành Thăng Long, đời Lê có thư viện gọi là thư viện Bồng Lai. Hiện chưa rõ cách thức tổ chức và chủng loại thư tịch được lưu trữ ở đây.
Dưới triều Lê, số lượng thư tịch của dân tộc tăng lên về số lượng, các bộ sách lớn được biên soạn, khắc in và lưu hành. Nhiều bản in các sách được thực hiện, kể cả sách của Trung Quốc như năm 1435 hoàn thành ván khắc mới sách Tứ thư đại toàn [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr.335] v.v… Hàng năm, số lượng sách công ban xuống các phủ không phải là ít, như các sách “Tứ thư, Ngũ kinh, Đăng khoa lục, Hội thí lục, Ngọc đường văn phạm, Văn hiến thông khảo, Cương mục cùng các loại sách thuốc” [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, tr.490]. Đó là chưa kể đến việc triều đình liên tục ban hành các sách do triều đình biên soạn trong cả nước, đặc biệt là các điều luật, quy định mới v.v.. như năm 1511, triều đình ban sách Trị bình bảo phạm cho cả nước, gồm 50 điều [Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, tr.58]. Đây là cơ sở để ta có thể tin rằng dưới triều Lê có không ít các trung tâm lưu trữ hoặc thư viện lớn của nhà nước, ngoài ra còn có các cơ sở in ấn, nhân bản. Đời Mạc cũng có nhiều cố gắng trong việc thu thập sách vở(32) nhưng tiếc là sau nhiều sự biến và loạn lạc mà số sách còn lại ngày nay không được bao nhiêu.
4. Tây Sơn (1778 - 1802)
Theo sách La Sơn phu tử(33), thư viện Sùng Chính được thành lập năm Quang Trung thứ 4 (1791) tại làng Nam Hoa (nay là Nam Kim, Thanh Chương, Nghệ An) do Nguyễn Thiếp làm Viện trưởng. Đây vừa là nơi để sách, vừa là nơi dịch chú các sách kinh điển chữ Hán do các nhà Nho dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Thiếp đảm nhiệm. Trong một thời gian ngắn, nơi đây đã dịch chú được một số tác phẩm kinh điển của Nho gia sang chữ Nôm. Hiện chưa rõ số lượng sách tàng trữ.

CHÚ THÍCH
(1) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.212]: “Tân Mùi, [Thái Bình] năm thứ 2 [971]. Bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo… Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng chân uy nghi”.
(2) Theo Phật đỉnh tôn thắng gia cú linh nghiệm Đà la ni, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam [tr.54-56].
(3) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.235] “Mùa xuân Minh Xưởng ở Tống về, xin được kinh Đại tạng.”
(4) Việt sử lược [tr.75].
(5) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.242].
(6) (7) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.246].
(8) (9) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.247].
(10) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.256].
(11) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.257].
(12) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.258].
(13) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.275]: “Mùa thu, tháng 8, làm Văn miếu…Hoàng Thái tử đến học ở đây.”
(14) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.280].
(15) Tác giả Phan Văn trong Giáo trình thư viện học đại cương [tr.20] có viết: “Năm 1076, nhà vua mở Quốc tử giám để chăm lo giảng thuật Nho giáo, các sách giáo khoa được phổ biến rộng rãi và nhập vào thư viện càng nhiều. Do đó, ngoài những kho sách tàng kinh đã có, một thư viện đúng với nội dung của nó đã được xây dựng bên cạnh Quốc tử giám (1078)”. Chúng tôi chưa tìm được tài liệu gốc của thông tin này nên đưa vào đây để tiện tham khảo.
(16) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.281].
(17) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.282].
(18)(19)(20) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 2, tr.15].
(21) Tác giả Phan Văn trong Giáo trình thư viện học đại cương [tr.20] viết: “Năm 1253, Quốc học viện được thành lập, để cho các Nho sinh học tập, có kho chứa sách, phòng đọc sách, có thầy giảng dậy, có nơi để học sinh lưu trú.”
(22) Có thể kể đến các bộ như Trung hưng thực lục, Hoàng triều Đại điển, Hình thư, Đại Việt sử ký v.v… hiện đều đã mất.
(23) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 2, tr.38] chép “… Hàn lâm viện Học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu Lê Văn Hưu vâng sắc chỉ soạn xong bộ Đại Việt sử ký từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng, gồm 30 quyển dâng lên...”
(24) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 2, tr.73].
(25) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 2, tr.78].
(26) Khâm định Việt sử thông giám cương mục [tập 1, tr. 669].
(27) Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Bài tựa Nghệ văn chí [tr.101].
(28) Theo Dư địa chí thông luận, bài của Lý Tử Tấn chép ở phần đầu sách Dư địa chí, Ức Trai tập. Chuyển dẫn theo Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm [tập 1, tr.48].
(29) Đại Việt sử ký toàn thư [tập 1, tr.93] “… đặt tên là Bản kỷ tục biên, giao cho khắc in, mười phần mới chừng được năm, sáu. Nhưng công việc chưa xong, sách còn giữ ở Bí các”.
(30) Theo bài Việt giám thông khảo tổng luận của Lê Tung, chuyển dẫn theo bản dịch của Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm [tập 1, tr.64].
(31) Chuyển dẫn theo Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm [tập 1, tr.14].
(32) Theo Lê Quý Đôn trong bài tựa sách Nghệ văn chí, Đại Việt thông sử [tr.101]: “Đến đời Ngụy Mạc, dần dần những sách vở ấy cũng được thu thập biên chép lại.” (“Sách vở ấy” ở đây là những thư tịch tài liệu bị rơi vãi trong loạn Trần Cảo năm 1516.)
(33) Chuyển dẫn theo Trần Nghĩa, bài Dẫn luận, sách Đề yếu [tập 1, tr.19]: La Sơn phu tử, Nxb. Minh Tân, 1952, tr.148.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Phan Văn Các, Claudine Salmon (chủ biên), Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 1: Từ Bắc thuộc đến thời Lý, École francaise d’Extrême - Orient và Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, Paris - H. 1998, 282 tr.
  2. Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in Nội các quan bản. Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Bản dịch của Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Phan Huy Lê hiệu đính, Nxb. KHXH, H. 1998, 4 tập.
  3. Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb. KHXH, H.. 1978, 402 tr.
  4. Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam, tập 1: Thư viện Quốc gia xuất bản, H., 1970, 405 tr.; tập 2: Nxb. KHXH, H., 1990, 279 tr.
  5. Việt sử lược, Trần Quốc Vượng (phiên dịch và chú giải), Đinh Khắc Thuân (đối chiếu, chỉnh lý), Nxb. Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, H. 2005, 468 tr.
  6. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu.Trần Nghĩa, François Gros đồng chủ biên, Nxb. KHXH, H. 1993, tập 1: A - H; tập 2: I - S; tập 3: T - Y.
  7. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb. KHXH, 36 tập.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb. KHXH, H. 1998, 2 tập.
  9. Phan Văn: Giáo trình Thư viện học đại cương, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội xuất bản, H. 1983, 216 tr./. 
  10. Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.533-544

5 tháng 4, 2012

CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ CỦA VIỆT NAM TRÊN VÙNG ĐẤT NAM BỘ

                                                               GS.TSKH Vũ Minh Giang



Từ lâu Nam Bộ đã là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Vịêt Nam, nhưng do tính chất phức tạp của lịch sử nên cho đến nay vấn đề chủ quyền lãnh thổ (territorial sovereignty) vẫn còn có những nhận thức chưa thật đầy đủ. Trên cơ sở trình bày một cách hệ thống diễn biến lịch sử và phân tích những yếu tố khẳng định tính chất chính đáng, phù hợp với thông lệ quốc tế của quá trình thụ đắc lãnh thổ phía nam của dân tộc ta, bài viết này hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học và nâng cao thêm hiểu biết về chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ.
Mặc dù những vướng mắc về biên giới giữa Việt Nam và Campuchia nhiều khi là những vấn đề cụ thể liên quan tới đường biên giới hiện tại, nhưng cội nguồn của những vướng mắc đó lại nảy sinh từ lịch sử, trong đó cơ bản nhất, sâu xa nhất là vấn đề lãnh thổ vùng Nam Bộ. Có một quan niệm cho rằng vùng đất Nam Bộ từ xưa vốn là lãnh thổ của Campuchia. Lập luận chủ yếu (mà không chứng minh) của quan niệm này là đồng nhất nước Phù Nam ở trung tâm của vung hạ lưu sông Mê Kông với nhà nước đầu tiên của người Khmer[1]. Trong một hội thảo về Bảo tồn di sản văn hoá tổ chức năm 1993 tại thành phố Nara (Nhật Bản), báo cáo chính thức của Campuchia do ông Vann Molivann, Bộ trưởng Quốc vụ khanh trình bày trước hội nghị cũng xếp văn minh Phù Nam vào nhóm “dạng thức đặc biệt của nhóm Khmer”[2]. Để giải quyết thoả đáng vấn đề này không thể không trở lại xem xét cụ thể nguồn gốc và diễn biến chủ quyền lãnh thổ đối với vùng đất này. Hiển nhiên, việc xem xét lịch sử chủ quyền phải bắt đầu từ nhà nước Phù Nam.
1. Vấn đề nước Phù Nam
Căn cứ vào những ghi chép trong các thư tịch cổ Trung Quốc thì Phù Nam là một quốc gia nằm ở phía nam của Lâm Ấp (Champa) nghĩa là tương đương với đất Nam Bộ ngày nay[3]. Cũng dựa vào các thư tịch cổ, các nhà khoa học đã thống nhất nhận định rằng nước Phù Nam xuất hiện vào khoảng đầu Công nguyên và biến mất vào khoảng thế kỷ thứ VII [4]. Mùa xuân năm 1944 nhà khảo cổ học Pháp Louis Malleret đã tiến hành một cuộc khai quật có ý nghiã lịch sử ở khu vực gần núi Ba Thê (nay thuộc địa phận xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang). Từ sau cuộc khai quật này bắt đầu xuất hiện khái niệm văn hoá Ốc Eo và một cách tự nhiên các nhà khoa học đã dễ dàng đi tới nhận định rằng vấn đề Phù Nam không thể tách rời vấn đề Ốc Eo. Hay nói cách khác, hoàn toàn có cơ sở khoa học nếu đồng nhất những di vật thuộc văn hoá Ốc Eo là di tích văn hoá vật thể của nước Phù Nam. Vấn đề này đã được khắng định trong nhiều tác phẩm và hội thảo khoa học, đặc biệt là hội thảo về Văn hoá Ốc Eo - Phù Nam do Bộ KH-CN tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh năm 2004, nhân kỷ niệm 60 năm sự kiện phát hiện văn hoá ốc Eo. Các học giả cũng đã khẳng định Ốc Eo là một nền văn hoá có nguồn gốc bản địa, ít ra là từ thời đại kim khí và trong thời kỳ cường thịnh nhất, Phù Nam đã phát triển thành một đế chế rộng lớn bao gồm toàn bộ phần phía nam bán đảo Đông Dương (Nam Bộ của Việt Nam hiện nay, nước Campuchia, một phần nam Lào), một phần Thái Lan và bán đảo Malaca, nhưng trung tâm vẫn là vùng đất Nam Bộ.
Một vấn đề có ý nghĩa quan trọng là xác định chủ nhân của văn hoá ốc Eo. Trước đây, người ta thường nói mà không chứng minh rằng chủ nhân nền văn hoá này là tổ tiên của người Khmer. Nhưng dưới ánh sáng của những nghiên cứu mới thì vấn đề không phải như vậy. Trước hết, tất cả những di tích thuộc văn hóa Ốc Eo có thể dễ dàng nhận thấy là khác biệt với văn hóa Khmer. Những dấu vết của Chân Lạp trên đất Nam Bộ không thể hiện là sự phát triển liên tục của văn hóa Phù Nam[5]. Về phong tục tập quán, sử liệu Trung Quốc cũng cho biết rằng tang lễ và hôn nhân của Phù Nam gần giống với Lâm ấp (tức Champa).
Về mặt lịch sử, các tư liệu trong thư tịch cổ Trung Quốc cũng phân biệt rất rõ Phù Nam với Chân Lạp (quốc gia của người Khmer). Sử ký của nhà Tùy chép rằng nước Chân Lạp ở về phía tây nam Lâm ấp, nguyên là một chư hầu của Phù Nam. Vua nước ấy là Ksatriya Citrasena đã đánh chiếm và tiêu diệt Phù Nam [6]. Sử ký nhà Đường cũng chép: “Trong nước [Phù Nam] bấy giờ có thay đổi lớn. Nhà vua đóng đô ở thành Đặc Mục, thình lình bị nước Chân Lạp đánh chiếm, phải chạy trốn về miền nam, trú ở thị trấn Na Phất Na[7]. Những sự kiện được chép trên đây diễn ra vào đầu thế kỷ VII. Căn cứ vào sự kiện 627 Phù Nam còn đến tiến cống nhà Đường lần cuối cùng, các học giả cho rằng đó có thể coi đó là năm sớm nhất nước Phù Nam bị tiêu diệt[8].
Như vậy Chân Lạp là một quốc gia xuất hiện ở vùng trung lưu sông Mê Kông, khu vực gần Biển Hồ, lấy nông nghiệp là nghề sống chính. Còn Phù Nam là một quốc gia ven biển có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển. Trong thời kỳ Phù Nam cường thịnh đã có nhiều nước nhỏ thần phục với tư cách là những thuộc quốc hoặc chư hầu, trong đó có Chân Lạp. Vào đầu thế kỷ VII, nhân lúc Phù Nam suy yếu, Chân Lạp đã tấn công và chiếm lấy. Lãnh thổ Phù Nam về tay Chân Lạp do kết quả của những cuộc chiến tranh.
2. Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân Lạp
Sau khi chiếm được Phù Nam, vùng đất này được gọi là Thuỷ Chân Lạp[9]. Việc cai quản vùng lãnh thổ mới đối với Chân Lạp hết sức khó khăn. Trước hết đây là một vùng đồng bằng mới bồi lấp còn ngập nước và sình lầy, người Khmer với dân số ít ỏi chưa thể tổ chức khai thác trên quy mô lớn. Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của Lục Châu Lạp cũng còn đang đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực. Vào nửa sau thế kỉ thứ VIII quân đội Srivijaya của người Java đã liên tục tiến công vào các quốc gia trên bán đảo Đông Dương. Kết cục là Thuỷ Chân Lạp bị quân Java chiếm. Cả vương quốc Chân Lạp gần như bị lệ thuộc vào Srivijaya. Cục diện này mãi đến năm 802 mới kết thúc. Tuy nhiên người Khmer lúc này muốn dồn sức phát triển các vùng trung tâm truyền thống của họ ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mê Kông và hướng nỗ lực bành trướng sang phía tây, vùng lưu vực sông Chao Phaya. Trong khoảng thời gian từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, Chân Lạp trở thành một quốc gia cường thịnh, tạo dựng nên nền văn minh Angkor rực rỡ, đồng thời mở rộng lãnh thổ lên tận Nam Lào và trùm lên cả lưu vực sông Chao Phaya. Trong khi đó qua các di tích khảo cổ học, dấu tích của văn hoá Khmer và văn minh Angkor ở vùng Đồng Nai - Gia Định hết sức mờ nhạt[10].
Do chiến tranh và phải tập trung công sức phát triển các trung tâm ở vùng lục địa, sau mấy thế kỷ thuộc Chân Lạp, đến thế kỷ XIII theo Chu Đạt Quan, vùng đất Nam Bộ vẫn còn là một vùng đất hoang vu với những “bụi rậm của khu rừng thấp... tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơinhững cánh đồng bị bỏ hoang phế, không có một gốc cây nào. Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẫy, hàng trăm hàng ngàn con trâu rừng tụ họp thành từng bầy trong vùng này, tiếp đó là nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm…”[11].
Bắt đầu từ thế kỷ XIV Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các vương triều Thái từ phía tây, đặc biệt là từ sau khi vương quốc Ayuthaya hình thành. Trong gần một thế kỷ Chân Lạp liên tiếp phải đối phó với những cuộc tiến công từ phía người Thái, có lúc kinh thành Angkor đã bị quân đội Ayuthaya chiếm đóng.
3. Công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ
Từ thế kỉ XVI, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc và dần bước vào thời kì suy vong, hầu như không có điều kiện quan tâm đến vùng đất còn ngập nước ở phía đông và trên thực tế đã không đủ sức quản lý vùng đất này. Trong bối cảnh đó nhiều cư dân Việt từ đất Thuận Quảng đã vào vùng Mô Xoài, Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ) khai khẩn đất hoang lập làng sinh sống.
Năm 1620 vua Chân Lạp Chey chetta II đã cưới con gái chúa Nguyễn Phúc Nguyên làm vợ. Đối với Chân Lạp, việc kết thân với chúa Nguyễn là để dựa vào lực lượng quân sự của người Việt lúc này đang rất mạnh nhằm làm giảm sức ép từ phía Xiêm. Với chúa Nguyễn, quan hệ hữu hảo này tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt, vốn đã có mặt từ trước, được tự do khai khẩn đất hoang và làm ăn sinh sống trên đất Thuỷ Chân Lạp và tăng cường ảnh hưởng của họ Nguyễn với triều đình Oudong.
Năm 1623 chúa Nguyễn chính tức yêu cầu triều đình Chân Lạp để cho dân Việt mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân và để quản lý, chúa Nguyễn lập ở Pray Kor (vùng Sài Gòn ngày nay) một trạm thu thuế. Vua Chân Lạp đã chấp thuận đề nghị này[12] . Vào thời điểm đó cư dân Việt đã có mặt ở hầu khắp miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn.
Sau cái chết của Chey Chetta II vào năm 1628 nội bộ giới cầm quyền Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc. Nhiều cuộc chiến giữa các phe phái đã diễn ra với sự trợ giúp quân sự của một bên là quân Xiêm, một bên là quân Nguyễn. Những cuộc chiến ấy chẳng những không ảnh hưởng đến việc người Việt tiến hành khai phá những vùng đất hoang hóa ở đồng bằng sông Cửu Long, mà trái lại, còn tạo điều kiện thuận lợi cho chúa Nguyễn thiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình trên những vùng đất cư dân Việt đã dựng nghiệp. Trong thời kỳ này sự thần phục của các nhóm di thần nhà Minh góp phần đã đẩy nhanh quá trình xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn trên lãnh thổ Nam Bộ. Từ năm 1679 chúa Nguyễn Phúc Tần đã tạo điều kiện để nhóm Dương Ngạn Địch cùng nha môn, quân sĩ vùng Quảng Tây tổ chức việc khai phá và phát triển kinh tế vùng lưu vực sông Tiền Giang (Mỹ Tho), cho nhóm Trần Thượng Xuyên và những đồng hương Quảng Đông của ông chiêu dân tiếp tục mở mang vùng Biên Hòa - Đồng Nai. Trong vòng gần 20 năm, một vùng đất trải dài từ Bà Rịa đến sông Tiền Giang, vốn đã được cư dân Việt đến sinh cư lập nghiệp từ trước, nhanh chóng trở thành những trung tâm kinh tế quan trọng với nhiều làng mạc trù phú, phố phường sầm uất, hải cảng nhộn nhịp có thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Dương, Bồ Bà (Java) tới buôn bán.
Trên cơ sở những đơn vị tụ cư đã trù mật những trung tâm kinh tế đã phát triển, năm 1698, chúa Nguyễn đã cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất này và cho lập ra ở đây một đơn vị hành chính lớn là phủ Gia Định. Như vậy vào cuối thế kỷ XVII chúa Nguyễn đã xác lập được quyền lực của mình tại vùng trung tâm của Nam Bộ, khẳng định chủ quyền của người Việt trên vùng đất mà trên thực tế, chính quyền Chân Lạp chưa khi nào thực thi một cách đầy đủ chủ quyền của mình.
Sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là vào năm 1708 Mạc Cửu ở Hà Tiên xin quy phục chúa Nguyễn. Là một thương nhân Hoa kiều ở Lôi Châu, thường xuyên tới buôn bán ở vùng biển Đông Nam Á, Mạc Cửu đã sớm nhận ra vị trí địa lý thuận lợi của vùng đất Mang Khảm (sau đổi là Hà Tiên) nên đã lưu ngụ lại, chiêu mộ dân sửa sang bến thuyền, mở mang chợ búa, khai phá đất đai, biến một vùng đất còn hoang vu thành một nơi buôn bán sầm uất. Lúc đầu (vào khoảng năm 1680) Mạc Cửu đã từng xây dựng quan hệ thần phục với vua Chân Lạp, nhưng sau này thế lực Chân Lạp suy giảm, không đủ sức bảo vệ cho công việc làm ăn của cư dân vùng đất này khỏi sự tiến công cướp bóc của người Xiêm nên đã tìm đến chúa Nguyễn xin nội thuộc vào năm 1708. Năm 1757 khi đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng tứ giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn để đền ơn cứu giúp trong lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua, quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên đất Nam Bộ về cơ bản đã hoàn thành.
Từ quá trình lịch sử trên đây, không thể quan niệm một cách đơn giản rằng chủ quyền của người Việt trên vùng đất Nam Bộ là do chiếm của Chân Lạp. Chứng cứ lịch sử cho thấy quốc gia đầu tiên trên đất này là Phù Nam mà cư dân chủ yếu là người protomalais, đến đầu thế kỷ thứ VII mới bị Chân Lạp tiến công tiêu diệt. Tuy nhiên, Chân Lạp đã không có điều kiện để quản lý và khai thác vùng đất này. Sự sầm uất, trù phú của Nam Bộ là công lao khai phá của các nhóm cư dân chủ yếu là người Việt từ thế kỷ XVII. Chúa Nguyễn là người bảo hộ cho quá trình khai phá này và việc khẳng định quyền quản lý lãnh thổ là một hệ quả tự nhiên.
Quá trình thụ đắc vùng đất Nam Bộ của chúa Nguyễn chủ yếu thông qua khai phá hoà bình kết hợp với đàm phán ngoại giao để khẳng định chủ quyền. Đó là phương thức được thừa nhận là phù hợp với thông lệ lịch sử và các văn bản quốc tế hiện hành.
4. Thực thi và bảo vệ chủ quyền
Cùng với quá trình khai thác những vùng đất còn hoang vu ở Nam Bộ của cộng đồng cư dân, các chính quyền của người Việt đã liên tục thực hiện các chính sách quản lý lãnh thổ với tư cách là chủ nhân vùng đất này. Từ thế kỷ XVII để thực thi chủ quyền, các chúa Nguyễn đã tổ chức các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lý dân đinh, ruộng đất và định ra các loại thuế. Phủ Gia Định thành lập năm 1698 gồm hai dinh Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý hơn 4 vạn hộ. Sau năm 1774 vùng đất từ nam Hoành Sơn đến mũi Cà Mau được chia làm 12 dinh, trong đó vùng đất Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ và Hà Tiên). Trừ Hà Tiên lúc đầu còn là một dinh phụ thuộc, mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã. Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính trên vùng đất Nam Bộ đã được kiện toàn. 
Triều Nguyễn thành lập vào năm 1802 tiếp tục sự nghiệp của các chúa Nguyễn đã hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản lý trên quy mô cả nước. Năm 1836 vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạ toàn bộ Lục tỉnh Nam Kỳ. Bên cạnh chính sách chính trị, quân sự, triều đình khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội, mở mang phát triển các dinh điền, đồn điền, xây dựng các công trình thuỷ lợi, phát triển giao thông thuỷ bộ. Năm 1817 vua Gia Long cho đào kênh Thoại Hà. Vào đầu những năm 20, vua Minh Mạng giao cho đào kênh Vĩnh Tế nối Châu Đốc với Hà Tiên dài trên 70km.
Ngay từ khi mới khẳng định quyền quản lý, các chính quyền người Việt đã ý thức sâu sắc về trách nhiệm đối với chủ quyền lãnh thổ. Chính quyền các chúa Nguyễn đã từng kiên quyết đánh bại các cuộc tiến công xâm phạm lãnh thổ của quân Xiêm vào các năm 1715,1771... Tiêu biểu cho ý chí bảo vệ chủ quyền là cuộc kháng chiến chống Xiêm với chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút vang dội của Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy vào năm 1785. Sang thế kỷ XIX, các Vua Nguyễn đã cho xây dựng hệ thống các trường luỹ và đồn bảo trấn thủ dọc theo biên giới để bảo vệ lãnh thổ. Trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX cùng với xây dựng nước Đại Nam hùng cường, các vua Nguyễn đã bảo vệ vững chắc chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ.
Khi thực dân Pháp tấn công xâm lược, triều Nguyễn đã tổ chức kháng chiến chống lại. Đến khi triều đình tỏ rõ sự bất lực thì nhân dân Việt Nam đã không tiệc máu xương liên tục đứng lên đấu tranh anh dũng bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước của mình. Thắng lợi vẻ vang năm 1975 là đỉnh cao của quá trình chiến đấu hy sinh bền bỉ lâu dài vì lý tưởng cao đẹp đó.
5. Cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ thể hiện ngay trong quá trình thụ đắc lãnh thổ bắt đầu từ thế kỷ XVII. Từ giữa thế kỷ XIX, chủ quyền này được chính thức ghi nhận trong văn bản các Hiệp ước quốc tế. Tháng 12 năm 1845 ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Miên (Cămpuchia) đã ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam. Năm sau, trriều Nguyễn và Xiêm lại ký một Hiệp ước có nhắc lại điều đó. Đây là Hiệp ước mà sau này Cao Miên cũng tham gia[13]. Như vậy muộn nhất là đến năm 1845 các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó có cả Cămphuchia đã ký các văn bản pháp lý chính thức công nhận vùng đất Nam Bộ là của Việt Nam. 
Pháp tấn công Nam Bộ rồi sau đó lần lượt chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ là các sự kiện thể hiện rõ sự xâm hại đến chủ quyền lãnh thổ trên vùng đất Nam Bộ, nhưng Cămpuchia không có bất cứ một phản ứng gì. Trái lại, triều Nguyễn đã điều động quân đội tiến hành kháng Pháp và khi kháng chiến thất bại, đã đứng ra ký các Hiệp định nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông (năm 1862) và 3 tỉnh miền Tây (năm 1874). Đây là những chứng cớ và cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất này.
Sau khi lập ra Liên bang Đông Dương, trên cơ sở nghiên cứu lịch sử thực thi chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ, Pháp đã tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam Kỳ và Cămpuchia theo luật của nước Pháp. Việc khảo sát, đo đạc trên thực địa được tiến hành bởi các chuyên gia Pháp và Cămpuchia. Năm 1889 giữa Pháp và Cămpuchia đã ký một loạt các văn bản pháp lý về hoạch định, phân giới cắm mốc biên giới giữa Nam Kỳ và Cămpuchia. Tất cả các văn bản pháp lý này đều khẳng định vùng đất Nam Kỳ hoàn toàn thuộc về Việt Nam.
Trước những thắng lợi liên tiếp của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 4 tháng 6 năm1949 tổng thống Vincent Aurol ký Bộ luật số 49 - 733 trả lại Nam Kỳ cho chính quyền Bảo Đại. Trong Bộ luật còn có chữ ký của Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp.
Giải thích những thắc mắc của vương quốc Cămpuchia về quyết định này, ngày 8 tháng 6 năm 1949 Chính phủ Pháp đã có thư chính thức gửi quốc vương Sihanouk, trong đó có đoạn nói rõ: “Về pháp lý và lịch sử không cho phép Chính phủ Pháp trù tính các cuộc đàm phán song phương với Cămpuchia để sửa lại các đường biên giới của Nam Kỳ” vì “Nam Kỳ đã được An Nam nhượng cho Pháp theo các Hiệp ước năm1862 và 1874…. chính từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam… về pháp lý, Pháp có đủ cơ sở để thoả thuận với Hoàng đế Bảo Đại việc sửa đổi quy chế chính trị của Nam Kỳ”. Trong bức thư đó Chính phủ Pháp còn khẳng định: “thực tế lịch sử ngược lại với luận thuyết cho rằng miền Tây Nam Kỳ vẫn còn phụ thuộc triều đình Khmer lúc Pháp tới ” “Hà Tiên đã được đặt dưới quyền tôn chủ của Hoàng đế An Nam từ năm 1715 và kênh nối Hà Tiên với Châu Đốc được đào theo lệnh của các quan An Nam từ nửa thế kỷ trước khi chúng tôi đến[14].
Vậy là đến năm 1949, vùng đất Nam Bộ vốn từng bị triều Nguyễn “bán” cho Pháp, đã được trả lại bằng một văn bản có giá trị pháp lý. Chính phủ Pháp còn khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với vương quốc Cămpuchia. Từ đó về sau chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ liên tục được tất cả các Hiệp định định có giá trị pháp lý quốc tế như Hiệp định Genève (1954), Hiệp định Paris (1973) công nhận.
Như vậy, chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ không chỉ được khẳng định bởi tính tính chính đáng trong quá trình thụ đắc lãnh thổ cũng như công lao của Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vùng lãnh thổ đó suốt từ thế kỷ XVII đến nay mà còn phù hợp với nguyên tắc uti possidetis (tôn trọng nguyên trạng), phù hợp thông lệ và các công ước quốc tế hiện hành.
Kết luận
Vùng đất Nam Bộ vốn là một địa bàn giao tiếp và đã từng có nhiều lớp cư dân đến khai phá. Vào khoảng đầu công nguyên, cư dân vùng đất này đã xây dựng nên nhà nước Phù Nam. Trong thời kỳ phát triển nhất vào khoảng thé kỷ V-VI, Phù Nam đã mở rộng ảnh hưởng và trở thành một đế chế rộng lớn với nhiều thuộc quốc phân bố ở phía nam bán đảo Đông Dương và bán đảo Malaca. Vào đầu thế kỷ VII đế chế Phù Nam tan rã, nước Chân Lạp của người Khmer, vốn là một trong những thuộc quốc của Phù Nam ở vùng Tongle Sap đã tấn công đánh chiếm vùng hạ lưu sông Mêkông (tương đương với vùng đất Nam Bộ ngày nay).
Tuy nhiên, trong suốt thời gian gần 10 thế kỷ vùng đất Nam Bộ không đựơc cai quản chặt chẽ và gần như bị bỏ hoang. Từ cuối thế kỷ XVI và đặc biệt là từ đầu thế kỷ XVII, dưới sự bảo hộ của các chúa Nguyễn người Việt đã từng bước khai phá vùng đất này. Người Việt đã nhành chóng hoà đồng với các cộng đồng cư dân tại chỗ và những cư dân mới đến (người Hoa) cùng nhau mở mang, phát triển Nam Bộ thành một vùng đất trù phú. Cũng từ đây người Việt là cư dân chủ thể và thực sự quản vùng đất này. Từ đó đến nay chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đã được khẳng định không chỉ bằng thực tế lịch sử mà còn trên các văn bản có giá trị pháp lý được cộng đồng quốc tế thừa nhận.
Trong suốt hơn ba thế kỷ với biết bao thăng trầm của lịch sử, nhiều thế hệ người Việt Nam (với ý nghĩa cộng đồng cư dân đa dân tộc) đã đổ biết bao công sức để dựng xây và bảo vệ vùng đất Nam Bộ. Mỗi tấc đất nơi đây đều thấm đẫm mồ hôi và máu. Chính vì thế mà đối với mỗi người dân Việt Nam, Nam Bộ không đơn thuần chỉ là vấn đề chủ quyền lãnh thổ mà cao hơn thế, còn là vùng đất của những giá trị thiêng liêng.
 




[1] Bộ ngoại giao Campuchia: Sách đen. Phnom Penh, 1978
[2] Vann Molivann: Plan d’ urgence pour la réhabilitation des ressources culturelles, humaines et economiques des Sites d’Ankor, trong tập “Conservation of Cultural Heritage and International Assistance in Asian Countries”, Nara 1993, tr. 45.
[3] Lịch Đạo Nguyên: Thủy Kinh chú.
[4] Xem Lê Hương: Sử liệu Phù Nam, Sài Gòn 1974.
[5] ý kiến của các chuyên gia Ramesh, Raman (Ấn Độ) và N. Karashima (Nhật Bản).
[6] Tùy thư.
[7] Tân Đường thư.
[8] Lê Hương, sđd, tr. 93.
[9] Mã Đoan Lâm: Văn Hiến thông khảo
[10] Võ Sỹ Khải: Nghiên cứu văn hoá khảo cổ ốc Eo: mười năm nhìn lại, Khảo cổ học, số 4/1985.
[11] Chu Đạt Quan: Chân Lạp phong thổ kí (bản chữ Hán, mục Sơn xuyên)
[12] A. Dauphin Meunier: Le Cambodge, Paris 1965, tr.56.
[13] Raoul Marc Jennar, Les Frontières du Cambodge contemporain. INALCO, Paris 1998, tr. 89
[14] Dẫn theo Raoul Marc Jennar, sđd, tr. 97.

Sách dẫn
1. Bộ ngoại giao Campuchia: Sách đen.Phnom Penh, 1978
2. Christopho Borri: Xứ Đàng trong năm 1621, Hà Nội, 1998.
3. Cœdès G.: Deux inscriptions sanskrites du Fou-nan, BEFEO vol. XXXI, 1931.
4. Dauphin Meunier A.: Le Cambodge, Paris, 1965.
5. Lê Hương: Sử liệu Phù Nam, Sài Gòn, 1974
6. Hà Văn Tấn: Phù Nam và Óc Eo: ở đâu? Khi nào? và Ai? // Kỷ yếu Hội thảo khoa học Biên giới Tây Nam, ĐHQG HN, 1996.
7. Vũ Minh Giang: Quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ phía nam của Việt Nam // Kỷ yếu Hội thảo khoa học Biên giới Tây Nam, ĐHQG HN, 1996.
8. Malleret L.: L’Archeologie du Dellta du Mékong, BEFEO vol XL-IXI, Paris 1959 -1963.
9. Nguyễn Văn Hầu: Sự thôn thuộc và khai thác đất Tầm Phong Long, chặng cuối cùng của cuộc Nam tiến, Sử Địa, 1970 số 19 - 20.
10. Raoul Marc Jennar: Les Frontières du Cambodge contemporain. INALCO, Paris 1998.
11.Vann Molivann: Plan d’urgence pour la réhabilitation des ressources culturelles, humaines et economiques des Sites d’Angkor // Conservation of Cultural Heritage and International Assistance in Asian Countries, Nara 1993.
12. Võ Sỹ Khải: Nghiên cứu văn hoá khảo cổ Óc Eo: mười năm nhìn lại, Khảo cổ học, số 4/1985.
  
Bài in trong: Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2001 - 2006), Nxb Thế giới, Hà Nội, 2006