15 tháng 7, 2012

VÌ SAO MỸ GIẾT NGÔ ĐÌNH DIỆM?


                                                                     Dương Văn Triêm
Nhiệm vụ của người nghiên cứu lịch sử là phải phản ánh lại những gì đã diễn ra trong quá khứ sao cho chân thật nhất. Những hành động ngược lại, sẽ là tội ác, phản khoa học.
---------***---------

Từ sau năm 1950, mặc dầu được Mỹ viện trợ ngày càng tăng, nhưng tình hình của Pháp ở Việt Nam vẫn không khá hơn, vẫn tiếp tục bị sa lầy tại chiến trường. Do đó, Mỹ phải nghĩ đến việc thay chân Pháp.
Cách tốt nhất để thay Pháp vừa không ảnh hưởng đến mối quan hệ đồng minh với Pháp, vừa tránh được nguy cơ một cuộc chiến tranh Triều Tiên thứ hai. Đó là, xây dựng một chính quyền tai sai.
Ngô Đình Diệm (1901 – 1963) là người được chọn để đứng đầu chính quyền tai sai, này. Diệm là quan lại nhà Nguyễn, theo Công giáo, từng phục dịch cho Pháp, Nhật và bây giờ được Mỹ đào tạo để phục dịch cho Mỹ.
Khi lên nắm quyền, từ việc, Diệm phân biệt đối xử giữa những người theo Công giáo với những người theo Phật giáo. Đến việc, tiến hành hàng loạt các vụ thảm sát. Đã làm bùng lên phong trào chống Diệm hầu khắp cả nước, tiêu biểu là Phong trào Đồng khởi – năm 1959.
Phong trào, không những đưa chính quyền Diệm bên bờ sụp đỗ mà còn tác động xấu đến Mỹ. Dư luận thế giới lên tiếng, “một nước Mỹ dân chủ - lãnh đạo thế giới tự do chống lại sự xâm nhập của chủ nghĩa cộng sản” đang dung túng cho một bạo chúa (Ngô Đình Diệm).
Thế là, tại nhà Trắng, các phe phái đối lập“…lu loa tố cáo phe cầm quyền đang hà hơi tiếp sức cho chính quyền tay sai Sài Gòn chà đạp nhân quyền…[1]. Và cho rằng Diệm không phải là người Chống cộng thật sự - mà chỉ là người phi dân chủ và kỳ thị Phật giáo cuồng tín.
Chúng ta nên nhớ, cho đến năm 1966, chiến tranh Việt Nam mới trở thành ác cảm trong lòng dân Mỹ, còn trước đó hầu hết cử tri đều ủng hộ những cố gắng của chính phủ dành cho Việt Nam trong vấn đề “chống Cộng”. Nên những lời tuyên bố “chống Cộng” của bất kỳ đảng phái nào dù là Cộng hòa hay Dân chủ, trong thời điểm hiện tại là phù hợp với nguyện vọng của đa số cử tri Mỹ.
Vì lẽ trên, giới cầm quyền đương nhiệm Mỹ cần phải khẳng định rằng: “chúng tôi” đang lãnh đạo thế giới hòa bình chống sự bành trướng của Cộng sản, nên không bao giời chấp nhận một quốc gia đồng minh (cụ thể là Việt Nam Cộng hòa của Diệm) bóp nghẹt dân chủ. Nhà Trắng sẽ có biện pháp ngăn chặn hành động này.
Nhật ký Lầu Năm Góc ghi: Ngay từ năm 1960 nhiều bộ phận cả dân sự lẫn quân sự thuộc phái quốc gia đã nhận thức rõ ràng rằng sự tiến triển từ xấu đến tồi tệ và nếu như không làm gì để kết thúc quyền lực tuyệt đối của Diệm thì cuối cùng cộng sản sẽ giành được chính quyền với sự giúp đỡ hoặc ít nhất là sự đồng tình của dân chúng.  [2]
Vậy là, một “trò chơi” đảo chính, được tiến hành, Vương Văn Đông và một số tay chân khác của Diệm bị Mỹ mua chuộc để thực hiện kế hoạch.
Ngày 11 tháng 11 năm 1960 cuộc đảo chính nổ ra. Quân đảo chính với ba tiểu đoàn dù, có sự yểm hộ của xe tăng đã chiếm các vị trí xung yếu: bộ Tổng tham mưu, nha Giám đốc công an, Cảnh sát, trụ sở Quốc hội, nhà Bưu điện Trung ương, sân bay Tân Sơn Nhất, đài Phát Thanh và bao vây cả Dinh Độc Lập.
Nếu Quân đảo chính tiếp tục tấn công thì chắc chắn Diệm sẽ bị đỗ. Nhưng ngay trong thời điểm đó, quân đảo chính được lệnh của Mỹ “dừng lại”. Mọi việc được dàn xếp, việc thay Diệm bị bỏ ngỏ.
Mặt khác, trước khi, đảo chính nổ ra, tháng 3 năm 1960, các tham mưu trưởng liên quân Mỹ (JCS) bắt đầu vạch ra kế hoạch chống nổi dậy để cứu vãn tình thế tại nam Việt Nam. Kế hoạch được trình lên tổng thống Kennedy vào tháng 1 năm 1960, trước thời gian nhậm chức. Và mười ngày sau đó, Kennedy tăng thêm 41 triệu đô la viện trợ cho Diệm để thực hiện kế hoạch này. Đồng thời, Kennedy còn trang bị thêm cho Diệm công cụ bình định: “trực thăng vận” và “thiết xa vận”.
Nếu muốn thay Diệm, không đồng tình với hành động của Diệm sao Mỹ lại tăng thêm tài lực – sức mạnh cho Diệm…?
Một nhiệm kỳ tổng thống mới lại đến...
Kennedy, người của Đảng Dân chủ, đắc cử nhiệm kỳ thứ nhất với cách biệt rất nhỏ so với Nixon, người của Đảng Cộng hòa, 118.000 phiếu/ 68,3 triệu phiếu.
Trở lại tình hình nam Việt Nam, Diệm vẫn đang tiếp tục tiến hành các chiến dịch đẫm máu của mình. Do đó, đã tiếp tục làm bùng lên các phong trào chống đối, tiêu biểu nhất là hàng loạt các vụ tự thiêu phản đối Diệm, trong năm 1963. Nhưng những vụ tự thiêu lúc đầu, khi dư luận trong và ngoài nước Mỹ chưa biết đến. Thì chính quyền nhà Trắng chỉ xem đây “chỉ là một cuộc xung đột về văn hóa chứ không phải là khủng hoảng theo những thướt đo quốc tế” nên chính quyền nhà Trắng “vẫn không quá lo lắng về cái được xem là một cuộc cãi cọ phản văn hóa đơn lẻ[3].
Cho đến khi, vụ tự thiêu của Tì kheo Thích Quảng Đức tại ngã tư Nguyễn Đình Chiểu và Cách mạng Tháng Tám – Sài Gòn, ngày 11 tháng 6 năm 1963. Tin tức từ Việt Nam đã lan khắp thế giới, “quả thật chỉ qua một đêm cả thế giới nhận ra Mỹ chỉ là kẻ vô tích sự, đã chọn đúng một bạo chúa để hà hơi tiếp sức[4].
Nhân đó, Đảng Cộng hòa, vừa mới thất cử trong nhiệm kỳ rồi (năm 1961), nắm bắt cơ hội công kích Đảng Dân chủ.
Cho nên, đối với tổng thống đương nhiệm vừa mới nhậm chức Kennedy “việc ủng hộ một người Công giáo cuồng tín (Diệm) cứ tập trung khủng bố những người theo tôn giáo khác đã biến JFK (Kennedy) thành miếng mồi ngon trước miệng hổ đói trong cuộc bầu cử tới vào tháng 11. 1964” [5].
Trước tình hình trên, Kennedy lên tiếng: “Sự đụng chạm giữa tổng thống Ngô Đình Diệm với phật giáo đồ rất có hại cho công cuộc chống Cộng tại miền nam Việt Nam” [6]. Và yêu cầu Diệm là phải chấm dứt mọi hành động đàn áp tôn giáo, gạt bỏ Nhu [7] cùng tay chân ra khỏi chính quyền và mở rộng chính phủ.
Truyền thống của dân tộc Việt Nam, khi có ngoại xâm, tất cả đều đứng lên, không phân chia tôn giáo, đảng phái. Và trong thời điểm hiện tại cũng thế. Vậy đâu là “Phật tử”,
đâu là “Cộng sản”? Việt cộng không nhất thiết phải là Cộng sản.
Đối với một đất nước hơn 85% dân số theo Phật giáo như Việt Nam thì ngay từ đầu khi việc Mỹ ủng hộ Diệm trong phong trào “chống Cộng”, cũng chính là chống Phật giáo. Và chắc chắn Mỹ biết điều này, vì không có một kẻ ngoại xâm nào, không tìm hiểu trước, được ít nhiều về văn hóa của một xứ mà nó xâm lược.
Ai cũng biết thế, nhưng chính quyền Kennedy vẫn tỏ thái độ với Diệm, và lần này cứng rắn hơn và kiên quyết hơn lần trước, “Nhiều quan chức ở Hoa Thịnh Đốn (Oasintơn) cho rằng giải pháp duy nhất chấp nhận được cuộc khủng hoảng chính trị - tôn giáo ở Việt Nam chỉ có thể là một cuộc đảo chánh quân sự của các chỉ huy quân sự Nam Việt Nam” [8].
Chính quyền Kennedy không muốn trực tiếp chỉ huy cuộc đảo chính, mà chỉ núp phía sau, để cho dư luận nhìn vào, xem như đây là một cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực. Một lần nữa Mỹ lại sử dụng đôla để mua chuộc thuộc hạ Diệm làm đảo chính.
Và thế là, thành phần trực tiếp chỉ huy đảo chính được xác lập: Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Lê Văn Kim, Nguyễn Văn Thiệu…
Phe trực tiếp chỉ huy đảo chính yêu cầu phía Mỹ: “Đề nghị Hoa Kỳ không tìm cách ngăn chặn cuộc chính biến và đặc biệt sau khi cách mạng thành công thì vẫn tiếp tục chương trình quân viện và kinh viện cho Việt Nam Cộng hòa để miền Nam phục hồi sức mạnh chống cộng sản và phục hồi dân chủ” [9]. Chính quyền Nhà Trắng đồng ý.
Để tạo thêm lòng tin cho phe đảo chính, Kennedy gởi điện cho đại sứ Lodge (là trung gian giữa Kennedy và nhóm tướng lãnh đảo chính Dương Văn Minh), thông qua đó để cũng cố thêm tinh thần cho quân đảo chính: “Tôi chấp thuận tất cả những điều đề cập trong cái điện văn mà những vị khác gởi cho ông (tức bức điện văn “tối mật” ngày 24 tháng 8) và tôi ủng hộ các điều đó hết mình. Chúng tôi sẽ cố gắng làm hết sức để có thể giúp ông hoàn thành sứ mạng này một cách mỹ mãn. Cho đến khi các tướng lãnh ra tay, tôi xin được dành cái quyền thay đổi kế hoạch hay đảo ngược chỉ thị vào giờ chót. Tôi hoàn toàn nhận hết trách nhiệm về bất cứ sự thay đổi nào, và tôi cũng chịu hoàn toàn trách nhiệm về kế hoạch này và hậu quả của nó”. [10]
Ngày 31 tháng 10 năm 1963, Nhà Trắng lại gởi thêm một bức điện khác cho Lodge chỉ thị: “Không được đứng về phe nào. Nếu tình thế xảy ra không rõ ràng, thì Mỹ phải đứng hòa hoãn giữa hai bên. Nếu đảo chính thất bại, tòa đại sứ nên cho phép họ (tướng lãnh tham gia đảo chính) tỵ nạn… Dù vậy, nếu có cuộc đảo chính xảy ra thì Mỹ vẫn mong là nó thành công” [11]. Qua bức điện chúng ta càng thấy được quyết tâm thay Diệm của Mỹ.
Đúng 13 giời 30 phút ngày 1 tháng 11 năm 1963, quân đảo chính do Dương Văn Minh đứng đầu bắt đầu nổ súng [12].
Khi quân đảo chính tấn công vào dinh Gia Long [13], Diệm cùng em trai tẩu tán khỏi dinh bằng một đường hầm bí mật. Và chạy đến lánh nạn tại nhà Mã Tuyên [14], đồng thời cầu cứu Mỹ, mong muốn sẽ được Mỹ dàn xếp cuộc đảo chính nhưng bị phía Mỹ trả lời: “Tôi cảm thấy không đủ thông tin để có thể trả lời ngài”. Mỹ tỏ ra thờ ơ trước biến cố mà Diệm đang đối mặt và nước đôi trong việc giúp Diệm.
Lúc này Diệm đã hiểu rõ số phận của mình, bây giờ đã không còn con đường lựa chọn nào khác...
Sáng ngày hôm sau, Diệm chạy đến nhà thờ Cha Tam – Chợ Lớn, tuyên bố đầu hàng quân đảo chính và xin được cấp một chiếc máy bay chở ra sống tỵ nạn ở nước ngoài. Dương Văn Minh – người đứng đầu quân đảo chính, đồng ý.
Nhưng sau đó khi Minh xin ý kiến, phía Mỹ không đồng ý cấp máy bay và trả lời là phế truất chưa đủ, Diệm phải bị giết. “Nếu không một khi được tị nạn chính trị đâu đó, họ (Diệm) sẽ đóng đinh Kennedy trên báo chí thế giới và thông tin này sẽ được các đối thủ chính trị thuộc Đảng Cộng hòa lợi dụng để chống lại ông trong cuộc tái tranh cử tổng thống… Bao nhiêu người sẽ bỏ phiếu cho Kennedy trong cuộc bầu cử sắp tới?” [15]
Diệm bị quân đảo chính bắt áp giải về Tổng nha Cảnh sát, tra tấn. Sau đó, tiếp tục bị giải về Bộ Tổng tham mưu, trên đường áp giải đã bị thủ tiêu.
Sau ngày Diệm bị giết, người kế nhiệm Dương Văn Minh, đến Nguyễn Khánh rồi Nguyễn Văn Thiệu, nhưng tình hình “chống Cộng” vẫn đi xuống, mặc dầu sự viện trợ của Mỹ tăng nhiều lần hơn trước, sự đàn áp phong trào Phật giáo vẫn được tiếp tục…
Tóm lại, về bản chất Diệm là một người tàn bạo, phản dân chủ và kỳ thị tôn giáo. Nhưng đây không phải là nguyên nhân để Mỹ giết Diệm mà nguyên nhân chính là chỉ vì “cái phiếu bầu tín nhiệm của cử tri Mỹ”.
Thực tế, vấn đề dân chủ - dân quyền ở Việt Nam trong mắt chính giới Mỹ, chỉ là con số không. Mỹ không hề quan tâm Diệm “chống ai”, miễn sao là Diệm tiến hành bình định thành công miền Nam. Chính giới Mỹ chỉ thật sự quan tâm đến vấn đề này chỉ khi gần đến nhiệm kỳ bầu cử tổng thống. Nên những lời tuyên bố “dân chủ” trước dư luận, chỉ là mỹ từ để che đậy tội ác, và dùng nó làm nguyên cớ để giết Diệm…
Chúng ta càng thấy rõ điều này hơn khi hai lần mà phía Mỹ giật dây đảo chính – giết Diệm là chỉ trong khoảng thời gian trước ngày bầu cử tổng thống không xa, khoảng 1 năm. Và chỉ có cái chết của Diệm mới giúp “các vị tổng thống đương nhiệm” muốn tái đắc cử, vô can trong chính sách ủng hộ chính quyền Diệm chống nhân dân Việt Nam.
Đến đây, mọi việc đã rõ…
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Howard Zinn(2010), Lịch sử dân tộc Mỹ, NXB Thế giới.
2. Nguyễn Q. Thắng – Nguyễn Bá thế (2006), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
3. PGS. Lê Cung(2008), Phong trào phật giáo miền nam Việt Nam năm 1963, NXB Thuận Hóa.
4. Thomas J. McCormick(2004), Nước Mỹ nửa thế kỷ - Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong và sau chiến tranh lạnh, NXB Chính trị Quốc gia.
5. Đai học Quốc gia Hà Nội – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn(2005), Điện Biên Phủ từ góc nhìn của các nhà khoa học Việt - Pháp, NXB Chính trị Quốc gia.
6. Nông Huyền Sơn(2010), Cái chết của anh em nhà Ngô, NXB Công an nhân dân.
7. GS. Vũ Dương Ninh(2007), Việt Nam – Thế giới và hội nhập (một số công trình tuyển chọn), NXB Giáo dục.
8. Joe Allen(2009), Việt Nam cuộc chiến thất bại của Mỹ, NXB Công an Nhân dân.
9. Bradley S.O’Leary & Edward Lee(2003), Cái chết của những ông vua thời chiến tranh lạnh – Vụ ám sát Ngô Đình Diệm & J.F.Kennedy, NXB Công an Nhân dân.
10. Lê Hồng Lĩnh(2006), Cuộc đồng khởi kỳ diệu ở miền nam Việt Nam, NXB Đà Nẵng.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ngô_Đình_Diệm.htm



[1] Dẫn theo Cái chết của anh em nhà Ngô, Nông Huyền Sơn,sđd t.152 - 153
[2] Dẫn theo Cuộc đồng khởi kỳ diệu ở miền nam Việt Nam, Lê Hồng Lĩnh, sđd t.375
[3] Dẫn theo Cái chết của những ông vua thời chiến tranh lạnh – Vụ ám sát Ngô Đình Diệm & J.F.Kennedy, Bradley S.O’Leary & Edward Lee, sđd t.41
[4] Dẫn theo Cái chết của những ông vua thời chiến tranh lạnh – Vụ ám sát Ngô Đình Diệm & J.F.Kennedy, Bradley S.O’Leary & Edward Lee, sđd t.43
[5] Dẫn theo Cái chết của những ông vua thời chiến tranh lạnh – Vụ ám sát Ngô Đình Diệm & J.F.Kennedy, Bradley S.O’Leary & Edward Lee, sđd t.43
[6] Dẫn theo Phong trào Phật giáo miền nam Việt Nam, PGS. Lê Cung, sđd t.273
[7] Vì những quyết sách của Diệm đều do Nhu làm cố vấn
[8] Dẫn theo Phong trào Phật giáo miền nam Việt Nam, PGS. Lê Cung, sđd t.275
[9] Dẫn theo Phong trào Phật giáo miền nam Việt Nam, PGS. Lê Cung, sđd t.279
[10] Dẫn theo Cái chết của anh em nhà Ngô, Nông Huyền Sơn, sđd t.228 – 229
[11] Dẫn theo Cái chết của anh em nhà Ngô, Nông Huyền Sơn, sđd t.231
[12] Trước âm mưu đảo chính của Mỹ, Diệm đã có biện pháp đối phó, Diệm giăng bẫy, chờ hành động đảo chính của các tướng lĩnh. Bằng việc sử dụng Nguyễn Khánh và Tôn Thất Đính cho kế hoạch mang tên Bravo I và Bravo II.
Trong Bravo I, Nguyễn Khánh được sử dụng như một nội gián, sẽ tham gia vào bất kỳ các nhóm có âm mưu đảo chính.
Trong Bravo II, nếu khi nắm bắt được thời gian xảy ra đảo chính từ Khánh, phía Diệm sẽ đi “lánh đạn” nơi khác, và lúc đó Tôn Thất Đính sẽ dùng quân lực, dập tắt mọi hành động đảo chính.
Kế hoạch đó của Diệm, tưởng chừng như nắm chắc quyền chủ động. Nhưng thực tế lại khác, Đính và Khánh đã bị Mỹ mua chuộc để cùng tham gia vào âm mưu đảo chính.
Khi cuộc đảo chính mới bắt đầu, phía Diệm vẫn tin là kế hoạch toan tính lúc đầu đang được tiến hành, nhưng dần về sau mới biết là mọi việc đã nằm trong tầm kiểm soát của Mỹ.
[13] Dinh Gia Long tuy không kiên cố, hiện đại bằng dinh Độc Lập, nhưng vì nó đã được Nhu cho thiết kế một đường hầm bí mật từ dinh thông ra ngoài. Do có phòng bị trước nên Diệm, Nhu chọn nơi này để ở.
[14] Một doanh nhân người Hoa, nằm trong tổ chức buôn lậu thuốc phiện của Diệm - Nhu
[15] Dẫn theo Cái chết của những ông vua thời chiến tranh lạnh – Vụ ám sát Ngô Đình Diệm & J.F.Kennedy, Bradley S.O’Leary & Edward Lee, sđd t.67

24 tháng 6, 2012

TỪ SỰ HỦY DIỆT CỦA VĂN MINH ÓC EO NHÌN VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

                                                                                     Hà Văn Thùy
Bước sang thế kỷ XXI, loài người đối mặt với nhiều hiểm họa sinh thái, trong đó đáng lo ngại nhất là sự nóng lên của Trái đất sẽ gây ra nạn đại hồng thuỷ nhấn chìm nhiều khu vực trên hành tinh. Theo dự báo ít bi quan nhất vào năm 1990 của Uy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) thì đến năm 2100, ít nhất mực nước biển tăng 15cm, trung bình lớn hơn 50 cm và cao nhất là 95 cm. Tuy nhiên, con số đưa ra của Viện Hàn lâm quốc gia Hoa Kỳ (NAS) và Cục bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) thì đến cuối thế kỷ này, mực nước biển tăng thấp nhất là 56 cm và cao nhất sẽ là 245 cm. Nếu chỉ căn cứ vào dự báo có phần lạc quan của IPCC, đến cuối thế kỷ sẽ có từ 2 đến 2,5 triệu hecta đất của đồng bằng sông Cửu Long và từ 1 đến 1,5 triệu hecta đất của đồng bằng sông Hồng ngập chìm trong nước biển!
Nỗi lo này có cơ sơ nếu ta nhìn lại những trận hồng thuỷ đã diễn ra trong quá khứ.
Nhà địa chất học người Pháp H. Fontaine cho thấy bức tranh khái quát của việc biến đổi mực nước biển như sau:
          Cuối Đại Pleixtoxen đầu Holoxen có một đợt hải thoái, mực nước biển hạ thấp khoảng 100 - 120 m so với ngày nay, khiến cho Biển Đông chỉ còn là một vũng nhỏ. Tiếp đó là thời kỳ băng hà Wum cách nay 60.000 đến 11.000 năm. Sau giai đoạn chuyển tiếp kéo dài 750 năm (từ 11.000 đến 10.250 năm trước) là thời kỳ băng tan và nước biển bắt đầu dâng. Sau đó vào năm 4850 trước Công nguyên, nước biển dâng lên bằng mực nước ngày nay. Sau thời kỳ này là 4 đợt hải xâm và 3 đợt hải thoái xen kẽ nhau:
  - Hải xâm Holoxen I  từ 4850 đến 1650 trước công nguyên, kéo dài 3.200 năm với 3 giai đoạn đỉnh cao 4 m (năm 3900), 3 m (năm 2.950), 2 m (năm 2.350).
  - Hải thoái Holoxen 1  từ 1.650 năm đến 1.150 năm trước Công nguyên, thời gian 500 năm với mức hạ thấp nhất - 0,8 m xảy ra vào năm 1400 trước Công nguyên.
  - Hải xâm Holoxen II  từ 1.150 đến 850 trước Công nguyên, thời gian 300 năm, đỉnh cao nhất xảy ra vào năm 950 trước Công nguyên.
  - Hải thoái Holoxen 2 từ năm 850 đến năm 200 trước Công nguyên, thời gian 650 năm, với cực tiểu 1 m xảy ra vào năm 550.
  -   Hải xâm Holoxen III từ năm 200 đến năm 50 trước Công nguyên, kéo dài  150 năm, mức cao nhất khoảng 0,4 m vào năm 50.
  -  Hải thoái Holoxen 3 từ năm 50 trước đến năm 550 sau Công nguyên, kéo dài  500 năm với mực nước thấp nhất - 0,5 m vào năm 200.
  -  Hải xâm Holoxen IV từ năm 350 đến năm 1.150, kéo dài 800 năm với mức cao trung bình 0,8 m vào năm 650.
  -  Từ năm 1.150 đến 1950 nước biển dao động 1 m, xem như ổn định hơn các thời kỳ trước.
          Điều đáng chú ý là khi so sánh những vết tích hải xâm hải thoái ở Việt Nam, các nhà khoa học đã tìm thấy sự tương đồng với những dấu tích hải xâm hải thoái ở bờ bên kia của Thái Bình Dương, trên đất Mỹ: Hải thoái Oc Eo cách nay 1750 năm tương đương Hải thoái Florida - 3 m cách nay 2000 năm; Hải thoái Rạch Giá cách nay 3350 năm tương đương Hải thoái Crane Key - 2 m cách nay 3300 năm.
          Trong những đợt hải xâm hải thoái trên, đáng chú ý là Hải xâm Holoxen IV. Sau khi hiệu chỉnh niên hạn theo phương pháp C14, các đặc tính của lần hải xâm này như sau:
  - Thời hạn 800 năm, từ năm 350 đến năm 1.150, đỉnh cao vào năm 650.
  -   Mực nước cao nhất từ 0,5 đến 1 m trong 30 năm, từ năm 635 đến năm 665.
Giai đoạn lên từ năm 350 đến 650. Giai đoạn xuống từ năm 650 đến năm 1.150.
          Ngoài việc chứng minh Hải thoái giữa Đại Trung sinh và Tân sinh, Biển Đông khô cạn tạo điều kiện cho động vật từ châu Á tràn sang châu Đại Dương khiến cho hệ động vật gần nhau giữa hai châu lục, chúng ta chưa biết nhiều về ảnh hưởng của các đợt hải xâm hải thoái trong lịch sử. Tuy vậy, ở nước ta có một vùng đất chịu tác động trực tiếp của Hải xâm Holoxen IV, đó là đồng bằng sông Cửu Long.
          Hải xâm Holoxen III diễn ra từ năm 200 đến năm 50 trước Công nguyên với mức nước 0,4 m đã ngăn chặn sự lan tỏa của văn hóa sông Đồng Nai ra đồng bằng nên phần lớn miền Tây Nam Bộ không có người sinh sống. Chỉ đến đầu Công nguyên, khi nước rút xuống thì những người Malayopolynesia mới từ các đảo ngoài biển tràn vào, tạo dựng văn minh Oc Eo. Nhưng từ năm 350 nước bắt đầu dâng lên từ từ. Thời gian đó, người Oc Eo sống chung với lũ bằng cách dựng nhà sàn và phát triển giao thông đường thủy. Nhưng đến năm 650, nước lũ lên quá cao, đến 1 m khiến người Oc Eo không thể bám trụ lại được nữa, một phần lên thuyền dông ra biển trở lại những hòn đảo tổ tiên họ đã ra đi, một bộ phận tiếp giáp Đông Nam Bộ thì lên vùng đất cao, thành một số tộc người Nam Trường Sơn hiện nay. Người Oc Eo không phải người bản địa mà là người di tản từ nơi khác đến, mang theo nền văn minh vốn có của họ. Chỉ trong vòng 600 năm tồn tại, người Oc Eo đã kiến tạo đồng bằng sông Cửu Long thành một địa bàn văn hóa phát triển rực rỡ. Nhưng sau đó một cách đột ngột, nền văn hoá này bị tiêu diệt.
          Có nhiều cách giải thích sự biến mất của cư dân Oc Eo vào thế kỷ VI. Một cách lý giải được nhiều học giả trước đây thừa nhận: đó là một cuộc chiến của người Chân Lạp từ phía tây tràn xuống cướp bóc và tiêu diệt cư dân Oc Eo. Nhưng cách lý giải này chưa đủ thuyết phục bởi lẽ những bằng chứng khảo cổ cho thấy không có vết tích của những đổ vỡ do cướp phá, tại thủ phủ Oc Eo những vật quý hầu như còn nguyên vẹn cho đến khi L. Malerete phát hiện. Một cuộc xâm lăng trên quy mô lớn nếu không chiếm đất cướp của thì với mục đích gì? Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất cho thấy cuộc xâm lăng chưa từng xảy ra là: vào thời điểm giữa thế kỷ VII, nước biển đã dâng cao trên phần lớn đồng bằng thời gian dài 30 năm khiến không ai sống nổi.
          Sau năm 665 nước biển bắt đầu rút. Nhưng phải 500 năm sau, cho đến năm 1.150 nước biển mới trở lại ổn định ở mức bình thường. Như vậy có thể suy ra: cho tới giữa thế kỷ XII, đồng bằng Nam Bộ chưa có người sinh sống. Điều này phù hợp với thư tịch cổ. Trong Chân Lạp phong thổ ký , ông Châu Đạt Quan sứ thần nhà Nguyên đến Chân Lạp qua đường sông Tiền năm 1296 mô tả: "Hầu hết cả vùng đều là rừng sác rậm rạp, những vàm rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm lý, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú ẩn sum suê. Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi... Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy rẫy. Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng họp từng bầy trong vùng này. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre gai chạy dài hàng trăm lý..." Như vậy, nhìn vào lịch sử, đồng bằng sông Cửu Long do đất mới bồi và thấp đã bị nạn hồng thủy xóa đi sự sống của con người trong vòng sáu, bảy trăm năm. Từ năm 1150 nước rút trở lại mức độ bình thường cho đến năm 1950. Nhưng từ 1950 hình như đã bắt đầu một chu trình hải xâm mới! Mực nước đo được ở Hòn Dáu Hải Phòng trong 30 năm qua đã tăng lên hơn 30 cm.
          Cả bằng chứng lịch sử cả bằng chứng địa chất cho thấy: hải xâm Hôlôxen IV đã dìm đồng bằng sông Cửu Long hàng trâm năm trong nước biển và xoá đi nền văn minh Oc Eo.
          Một câu hỏi tất yếu phải được đặt ra: điều gì đang chờ đồng bằng sông Cửu Long trong thế kỷ này? Hay nói cách khác: người đồng bằng sông Cửu Long học được gì từ sự huỷ diệt của người Oc Eo ?
          Từ kinh nghiệm lịch sử và từ những công trình nghiên cứu khoa học, chúng ta khẳng định một điều là: trận hồng thủy mới đang tới gần. Trong khoảng 50 đến 100 năm nữa, phần lớn đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng bị nước nhấn chìm. Điều gì sẽ xảy ra lúc đó? Phải nói rằng chưa ai trong chúng ta hình dung ra một kịch bản như vậy và trong chúng ta cũng không mấy ai nghĩ đến một điều khủng khiếp như thế sẽ xảy ra! Dù chúng ta có nhắm mắt lại thì thảm họa sinh thái đó vẫn đến. Dù vô tình dù chẳng vô tình, thiên nhiên vẫn vận hành theo quy luật của nó!
Có một điều mà chúng ta Homo Sapiens - loài người thông minh - phải nghĩ sao và hành động sao trước tai hoạ này?
          Có một điều không khỏi bức xúc là dù hơn chục năm trước, các nhà khoa học thế giới cảnh báo nguy cơ này và trong thời gian đó, nhiều nhà khoa học trong nước cũng dóng chuông báo động nhưng đáng ngạc nhiên là trên phương diện quản lý vĩ mô, chưa hề thấy Nhà nước phản ứng gì trước những tiếng chuông báo động đó!
          Có thể nói rằng những việc chúng ta đang làm cho đồng bằng sông Cửu Long như kênh tưới kênh tiêu, xây dựng những điểm dân cư thoát lũ... chỉ là những giải pháp tình thế mà chưa căn cơ chưa mang tính chiến lược lâu dài. Chương trình Ngọt hoá bán đảo Cà Mau được triển khai rầm rộ nhưng không hiệu quả, 1500 tỷ đồng hoá thành nước lã trôi ra biển! Chương trình ngăn mặn cửa sông Ba Lai bộc lộ những mặt tiêu cực: thông nước cho nơi này nhưng lại gây ngập úng tù đọng ở nơi khác và môi sinh của vùng nước lợ bị hủy hoại gây hậu quả không lường! Mặc dù tốn rất nhiều tiền bạc và công sức nhưng chúng ta chưa nghĩ tới một điều là: tất cả những công trình đó sẽ vô nghĩa một khi nước biển dâng lên, chỉ cần 50 cm!
          Một nghìn năm trăm năm trước, đối mặt với đại hồng thuỷ, khoảng một triệu người Oc Eo làm một cuộc di tản lớn ra các đảo ngoài khơi! Điều này buộc ta phải nghĩ : tới giữa thế kỷ này, khoảng 10 triệu dân đồng bằng sông Cửu Long sẽ đi đâu để tránh nước dâng ? Một câu hỏi không dể trả lời nhưng cũng không thể không trả lời. Càng không thể nói quên đi !
          Thiết tưởng đã đến lúc chúng ta nghiêm túc ngồi lại bàn chuyện này như một chương trình cấp quốc gia. Tương lai học là môn học cực khó nhưng những bài học từ nó giúp chúng ta ít ra là một cái hướng để đi tới. Cái định hướng ấy trước hết khẳng định một điều đau đớn là: một bộ phận đồng bằng sẽ bị chìm trong nước. Nhưng không chỉ thế mà phải chỉ ra trên một bản đồ dự báo: vùng nào ngập trước vùng nào ngập sau, diện tích bao nhiêu, số dân bao nhiêu?… Một khi biết những vùng nào chẳng bao lâu sẽ trả về cho nước, chúng ta sẽ biết cách đầu tư sao cho hiệu quả, tránh xây dựng những công trình kiên cố vững bền quá mức cần thiết và cũng lo cả phương án chủ động di tản hàng triệu người.
          Mối lo khác:  khi 4 triệu hecta đất nông nghiệp ở hai vùng châu thổ mất đi, có nghĩa là hai bồ lúa hai đầu đòn gánh xẹp đi, lấy gì để nuôi hơn một trăm triệu người lúc đó? Những câu hỏi như vậy quả không dễ trả lời. Nhưng nó cho ta gợi ý. Tôi nhìn về cứu cánh là miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Người Oc Eo ra biển nhưng người của đồng bằng sông Cửu Long sẽ lên miền Đông, lên Tây Nguyên. Nới đấy trong tương lai không chỉ là chốn dung thân của hàng triệu người mà còn là nơi làm ra luơng thực nuôi sống phần lớn dân cư. Từ cách nhìn đó, ta càng thấy vai trò vô cùng to lớn của miền Đông và tây Nguyên trong tương lai. Và để tạo chỗ dung thân của hàng triệu người Nam Bộ, chúng ta phải có phương cách đối xử  trân trọng, thông minh với Tây Nguyên mà công việc thiết yếu đầu tiên là phải trồng lại rừng đảm bảo độ phì nhiêu của đất, nguồn nước cho sinh hoạt cùng kinh tế. Khi phần lớn đất làm lúa nước không còn, những giống cây chịu hạn sẽ là nguồn cung cấp lương thực quan trọng. Lúc đó giống cây trồng rồi tập quán canh tác cũng khác. Khoa học nông nghiệp sẽ đáp ứng thế nào cho một tương lai như vậy?
          Nói những điều trên vào lúc này không khỏi có người cho là lo bò trắng răng. Nhưng nhân vô viễn lự họa đáo cận thân! Họa sẽ đến gần nếu không biết lo xa.

 Tân Bình 4/2003

16 tháng 6, 2012

NGƯỜI ĐÀN BÀ

                 Nguyễn Hồng Nhung
Hamvas Béla -  Nguyễn Hồng Nhung dịch từ bản tiếng Hung
( Trích tiểu luận triết học Scientia sacra)
1. Tư duy theo kiểu kết cấu gương về nhận thức của con người lịch sử không ở đâu tự trả thù chính mình như khi bàn đến bản chất và sự sống của người đàn bà. Nghĩa là khi một người nào đó tin rằng đàn bà là một nửa của đàn ông, thực ra họ đã hiểu sai hoàn toàn về hiện thực. Ở đây trong cách tư duy của con người lịch sử đã lộ rõ bản chất hoàn toàn bất lực của nó.  Khối lượng văn bản đồ sộ nói về đàn bà hoàn toàn có thể vứt đi.
Gần đây nhất, khi người ta nói về sự bùng nổ của chiêm tinh học, sự chú ý đến tính chất lưỡng tính của con người được coi như một khám phá vĩ đại. Trong thời hiện đại, ngoài một vài nhà huyền học và nhà thơ, không có tư tưởng nào có thể chấp nhận khi bàn về sự sống đàn bà.
Như mọi tư tưởng của thời cổ, nền tảng cần xuất phát: sự siêu hình. Vì chỉ từ cơ cấu ý nghĩa, từ hình ảnh, từ truyền thuyết không thể hiểu được nguồn gốc và bản chất của sự sống đàn bà. Có một điều bí ẩn không thể đặt tên và không thể nắm bắt mà người ta gọi là sự nhạy cảm siêu hình, là kinh nghiệm đầu tiên linh hồn kinh nghiệm, trước khi có tất cả các cơ cấu, hình ảnh truyền thuyết. Sự sống đàn bà chỉ có thể hiểu được từ đấy.
Bí ẩn của thế gian không phải là hai giới tính riêng biệt, không phải hai giới tính trong MỘT, mà là giới tính cổ. Bởi vì hai giới tính là hai, còn giới tính cổ là MỘT. Sự bí ẩn của sự sống đàn bà nằm ở nơi MỘT biến thành hai.
Vấn đề này mang một ý nghĩa sâu sắc, nghiêm chỉnh, đầy khó khăn và chưa nghe thấy bao giờ; nhưng sự tuyệt vời ở chỗ chính trong vấn đề này, thứ sâu sắc, khó khăn, nghiêm chỉnh và có ý nghĩa chỉ duy nhất có MỘT, chính đây là sự thống nhất lớn nhất giữa các truyền thống. Sự thống nhất này đôi khi theo đúng nghĩa cứ như có một sự thỏa thuận trước.
Tiếng Sankhja của Ấn độ gọi cái MỘT cổ, hiện thực cổ không thể chia cắt, cái bản chất cổ trước nhất của tạo hóa là Purusa.
Sự thể hiện đầu tiên của Purusa: là bản thân nguyên lý thế giới tạo hóa, là kẻ tạo dựng, là cái nôi, là nguồn gốc của mọi hình thức: Prakriti.
Purusa là sự sống cổ không chất và không thể chất hóa, là cái vô danh, vô giới hạn, cái tuyệt đối.
Prakriti là các chất lượng, các tên gọi, các giới hạn, các hình thức, là cái toàn bộ của các sinh linh.
Purusa là sự sống đàn ông, Prakriti là sự sống đàn bà.
 Sen-sien-kien của Trung quốc nói như sau:” Tất cả, cái có hình dạng, đều từ cái vô dạng bước ra. Cái không có hình dạng, cũng không có điểm dính mắc. Như vậy hình dạng là bản chất cổ của các sinh linh. Trong đó chứa đựng sự chuyển đổi lớn lao vô tận, CÁC NGUỒN LỚN, KHỞI THỦY, SỰ TINH KHÔI. SỰ CHUYỂN ĐỔI vẫn vô hình, CÁC NGUỒN là sự bắt đầu của các sức mạnh; KHỞI THỦY là cái bắt đầu của các hình dạng; SỰ TINH KHÔI là vật chất đầu tiên”.
Cái vô hình, thứ chưa có điểm dính mắc: là dương, là sự sống đàn ông. Hình dạng, bản chất cổ của các sinh linh chứa đựng SỰ CHUYỂN ĐỔI, CÁC NGUỒN LỚN, KHỞI THỦY, SỰ TINH KHÔI: đấy là âm, là sự sống đàn bà.
Trong truyền thống Ấn độ và Trung quốc đều có nghĩa như vậy. Và truyền thống Iran, Hêber, Ai cập cũng thế.
Tất cả siêu hình đều ghi nhận, cái đầu tiên, vô chất và không thể chất hóa, cái bản chất đi trước sự tạo dựng và các hình dạng là đàn ông( Purusa, Átman, Adam). Còn đàn bà là Prakriti, maja, Éva, Thái Âm, Csih, là sự tạo dựng các hình dạng, là phụ mẫu, là vật chất đầu tiên, mà truyền thống Trung quốc gọi là KHỞI THỦY, là các tên gọi, các sinh linh, là tổng thể và hình dạng cổ của các giới hạn và các tạo phẩm.
 Khi giải nghĩa các hình ảnh truyền thuyết, có thể phát biểu thành lời sách thiêng Do thái như sau: Adam là con người đầu tiên; là con người, là nhân loại, là chúa tể của thiên nhiên, là sinh linh tinh thần; là bản sao của TẠO HÓA. ĐẤNG TỐI CAO từ xương sườn của Adam tạo ra Éva, người đàn bà.
Nhưng người đàn bà, trong khoảnh khắc bước vào sự sống đã là: người mẹ. Và không chỉ là người mẹ của những đứa con của Adam và Éva, của toàn bộ nhân loại mà còn là người mẹ của chính Adam nữa.
Sự bí ẩn này ở các nơi khác cũng trình bày như vậy. Nữ thần mẹ trong truyền thuyết của tất cả các dân tộc đều là  mẹ của các vị thần, và là mẹ của cả vị thần đã tạo ra nữ thần mẹ. Khi ghi nhận những văn bản truyền thống, sự bí ẩn thoạt nhìn có vẻ nghịch lý này dễ hiểu một cách phổ quát đến mức không cần sử dụng những hình ảnh tượng trưng sáng sủa hơn.
Tri thức từ đó đến nay đã nhợt nhòa và biến mất. Ngày nay tất cả mọi người sẽ đều ngơ ngác không hiểu gì cả, nếu trong những chương sách của cuốn Mysterium Magnum không bộc lộ trực giác thần thánh của Jakob Böhme.
Theo cuốn sách này: „Adam là đàn ông và là đàn bà, hoặc không là ai, mà là một sinh linh trinh nguyên, là sự trong sạch, là hình ảnh cổ e lệ, là bản sao của Thượng đế; là cả hai bản chất cổ: vừa là lửa, và là ánh sáng, có cả hai trong Adam.”
Lời giải thích: Adam không mang hai giới tính, mà mang giới tính cổ. Giới tính cổ là trạng thái trong đó hai giới tính là một: „đàn ông và đàn bà, và không là một trong hai thứ.”
TẠO HÓA không tạo dựng ra Eva để phù hợp với Adam. Về điều này không hề ai nói đến. Böhme cho rằng: Đấng Tối cao đã tạo ra Eva từ bản chất của Adam.”
Cần phải hiểu điều này như thế nào?
Cần hiểu: Tạo Hóa lấy ra bản chất cấu thành sự sống của Adam, và từ đó, từ sự sống cô đọng này tạo dựng ra Eva. Bởi vậy Eva như một con người và như bản chất của sự sống bước vào sự sống: Matrix mundi - như Böhme viết: là mô hình cơ bản của thế gian, là hình ảnh cổ, hình dạng cổ: đấy là người mẹ cổ.
Ý nghĩa ẩn náu trong tiếng Sankja Ấn cổ cũng như vậy khi gọi cái toàn thể của các tên gọi, các giới hạn, các hình thức, các bản chất là Prakriti.
Bởi vậy Sen-sien-kien Trung Quốc gọi Thái Dương là hình ảnh cổ của thế gian. Bởi vậy trong các truyền thuyết,  nữ thần Mẹ là mẹ của các vị thần. Là mẹ của mọi hình dạng, mọi bản chất, mọi vật chất, của sự đông đảo, của mọi thấu kính, mọi giác quan, mọi lý tưởng.
 Mẹ: người mẹ của thế gian. Magna Mater. Là người mà từ đấy sự đông đảo của sự sống vĩnh viễn tuôn chảy. Là Mater và Matrix. Không phải một nửa của Adam, không phải một mặt kia của sự đối xứng, mà là bản chất của Adam.
Là người bước vào sự sống muộn hơn, muộn hơn trong thời gian nhưng về bản chất, vượt qua Adam. Đấy là nữ thần Mẹ, là Maat và Izisz của Ai cập, là Gaia Hy lạp, là Maja Ấn độ, là EL Ruah và En-sof Do thái, là Dương của Trung quốc, cũng là tạo phẩm của nguyên tắc tinh thần-đàn ông-thượng đế cổ- nhưng tạo phẩm này tuyệt đối, có trước và trên cả Tạo hóa. Đây là sự ra đời huyền bí của người đàn bà.
2. Phần sau đây so với phần trước cũng không kém sâu sắc, khó, và nghiêm chỉnh, và đầy ý nghĩa. Ở đây một lần nữa nếu không nhắc đến khái niệm Sophia của Böhme, không gì có thể diễn tả cho con người lịch sử hiểu nổi.
Böhme không đặt ra cái tên Sophia. Trong thời trung cổ đây là một truyền thống bí mật của các nhà giả kim mà phái ngộ đạo thời Alexandria, đặc biệt là Philon mang trở lại với thời cổ Ai cập. Văn bản mang tính chất Hermetikus nói về Tinh khôi thế giới (Kore kosmos) rất có thể đã dựa trên nền tảng truyền thống hàng nghìn năm.
Truyền thuyết Sophia cho rằng khi con người bắt đầu bị vật chất hóa, Adam thực thể, bản chất  đầu tiên, và cổ nhất” hình ảnh cổ e lệ của thực thể trinh khiết, trong sạch” không rơi xuống vật chất mà ở lại trong thế giới tinh thần.
 Thực thể trinh khiết này là Sophia-sự Thông Thái.” Sự Thông Thái là bản sao của Tình Yêu Thương”- „Tình yêu Thương nhìn thấy và nhận ra mình trong sự Thông Thái.”
Sophia trong hình hài cô gái trinh khiết ở lại với Thượng đế, và Eva „người đàn bà” Adam rơi xuống vật chất, người đàn bà bằng xương-thịt Eva thay thế vị trí này.
Sophia là lý tưởng, là Mẹ Trinh nữ cổ của thế giới, là Matrix, là sự Thông Thái mà Tình Yêu Thương nhận ra nó ở đấy, Sophia là Eva của Trời, là nàng con gái Trinh khiết. Còn Eva là thực thể trần tục, là bản sao, là phụ bản đã đánh mất bản chất vũ trụ, được sắp đặt bên cạnh con người đã bị vật chất hóa.
3. Giờ đây để hiểu những phần tiếp theo không mấy khó khăn.
Cần phân biệt giữa cái đẹp và sự quyến rũ.
Con người thông thường cho rằng đàn bà và cái đẹp như nhau, điều này được coi như sự tất nhiên tự thân. Đến mức người ta chỉ phân biệt cái đẹp từ bản chất đàn bà trong một số trường hợp ngoại lệ. Con người cho rằng hình ảnh tượng trưng tái tạo vĩnh cửu của bản chất vĩnh cửu của cái đẹp là đàn bà trên thế gian: trong hình dáng của họ, trong giọng nói, cử chỉ. Con người không nhận ra, khi họ nói người đàn bà đẹp, thực ra họ đồng nhất Eva và Sophia, họ đồng nhất người đàn bà với hình ảnh cổ đầu tiên, Sophia.
Sự đồng nhất này trong thiên nhiên vật chất là không thể loại bỏ. Con người không bao giờ có thể nhìn người đàn bà một cách khác, bởi vì không bao giờ thoát khỏi người đàn bà đầu tiên – Sophia- Trinh Nữ cổ, nhưng cũng không bao giờ thoát khỏi thực thể đàn bà tồn tại trong thế gian giác quan.
Giữa những kỷ niệm cổ lưu giữ trong con người, sau hình ảnh cổ về Thượng đế ngay lập tức tiếp đến hình ảnh người đàn bà cổ: thực thể Cổ, mà con người đã đánh mất, và mong muốn tìm thấy lại, thực thể chân chính từ bản chất của họ, mà Eva chỉ là bản sao trần thế thô thiển.
Con người không bao giờ tin tưởng một cách hoàn toàn và đầy đủ vào Eva, không trở thành một với Eva được. Trong bản chất sâu thẳm nhất con người luôn luôn tiếp đón người đàn bà trần thế bằng sự bảo trì. Và cái sinh linh sâu thẳm nhất này biết Eva không có nghĩa là cái đẹp, mà cái đẹp là Cô gái Trời.
Trong chừng mực người ta thấy người đàn bà trần thế đẹp, khi họ nói hoặc cho rằng như vậy, đấy là lúc con người đã đồng nhất một cách sai lầm người đàn bà trần thế với người đàn bà trời, và lẫn lộn cả hai( adhjása). Nhưng sự nhầm lẫn này không chỉ hợp luật, không thể tránh khỏi, không thể chống đỡ nổi mà còn không giảm bớt cả sự mê muội của họ.
Eva không đẹp. Eva quyến rũ. Eva là thực thể đã để lại sắc đẹp trong thế giới tinh thần và đổi lấy sự quyến rũ. Người đàn bà trần thế không đẹp mà quyến rũ. Và con người, khi nói đàn bà đẹp, là họ nhầm lẫn Người Con Gái của Sắc đẹp – thực thể thật sự của bản chất con người với sự quyến rũ và sắc quyến rũ.
Toàn bộ sự sống của người đàn bà trần thế nằm trong sự quyến rũ. Sự quyến rũ là sự vật chất hóa của đàn bà. Trên họ là dấu ấn của các Quyền lực, bên trong họ: tính cách, hình ảnh. Đàn bà trang điểm, ăn diện, tìm cảm hứng trong việc, chưa nói đến bản chất bên trong, mới chỉ ở hiện thực thân xác họ đã xoay khác với nguồn gốc thiên nhiên, mới chỉ ở hình dáng vật chất, họ đã thay đổi và che đậy.
Mục đích duy nhất của họ: quyến rũ. Trở nên quyến rũ.
Sự quyến rũ vô sinh và trống rỗng, vô đích và vô nghĩa. Tại sao? Tại sao phải quyến rũ? Để thống trị? để nắm quyền lực? Tìm giới tính cho khả năng sinh sản?
Không. Người hiểu được sự quyến rũ là người nhận ra sự kiêu ngạo trống rỗng bên trong đàn bà, tội lỗi bắt nguồn từ cái TÔI đàn bà- sự ngạo mạn đàn bà.
Từ sự quyến rũ không nảy sinh tình yêu, hôn nhân, sự thống trị, quyền lực, chiến thắng, vinh quang, hạnh phúc, sự yên ổn, sự thức tỉnh, sự cao thượng.
Từ sự quyến rũ không nảy sinh bất cứ cái gì: toàn bộ chỉ là một trò chơi phép thuật nhân tạo sặc sỡ, ngây ngất và mù quáng, một thứ bỏ bùa và làm mê mẩn, nhưng nếu trò chơi tan ra, cả kẻ đi quyến rũ lẫn người bị quyến rũ đều thất vọng, tội nghiệp, đều còn lại một mình một cách cay đắng và trống rỗng.
Sự quyến rũ và sắc quyến rũ là sự bù đắp và giả danh sắc đẹp cùng sự thông thái: đây là sắc đẹp và sự thông thái bị rơi vào tội lỗi. Bởi vì sắc đẹp và sự thông thái của Sophia là tình yêu thương và đánh thức tình yêu thương; Sự quyến rũ của Eva đánh thức ảo ảnh.
Sắc đẹp của Sophia ràng buộc vĩnh cửu: nhập làm một với nhau trong tình yêu thương để quay trở lại MỘT trong thời gian vô tận. Sự quyến rũ của Eva khiến người ta ngất ngây, nhưng khi tỉnh giấc sau sự ngây ngất mới té ra không hề có sự hội nhập làm một; toàn bộ chỉ là ảo ảnh và phép thuật.
Và đây là hoàn cảnh khiến tất cả mọi người đều hiểu sai, khi cho rằng bản thân Eva, kẻ đi quyến rũ không thất bại, không bị lừa dối bị phù phép như Adam, kẻ bị Eva lừa dối và phù phép. Thực ra, người đàn bà trong sự quyến rũ cũng chính là nạn nhân như người đàn ông.
Bởi vì sự quyến rũ của Eva có nghĩa là: thông qua bản thân mình, Eva  mang sự quyến rũ đến thế gian. Vì Eva, thế gian đầy rẫy ảo ảnh, sự quyến rũ, phép màu: những vẻ bên ngoài lôi cuốn, các hình ảnh, các mặt nạ, mà sau chúng chẳng hề có cái gì, bởi con người rơi vào phép màu mà nó tự biết nó bị lừa.
 Người đàn bà trần thế có một mục đích duy nhất là quyến rũ, một cách vô thức, không cố ý,  và sâu sắc hơn nữa: theo bản chất. Và đấy cũng là định mệnh của họ. Đàn bà sợ nhất: già đi và xấu đi. Bởi nếu đàn bà là đẹp, sẽ không bao giờ xấu đi và già đi.
Sắc đẹp không phải là một tính chất để có thể đánh mất, sắc đẹp không phải một đặc tính, mà là một sự tương đồng với Thượng đế. Thứ có thể bị mất, và thứ đàn bà có thể mất, đấy là sự quyến rũ. Bởi vậy họ sẽ xấu xí và sẽ già nua. Sắc đẹp không phải là cái gì bên ngoài đích thực.
Từ đâu chúng ta biết điều này? từ một thứ đúng là cái đẹp: từ nghệ thuật. Ở đó có cái đẹp, và còn lại vĩnh viễn. Trong nghệ thuật cái đẹp đã hiện thực hóa. Cái đẹp là lửa và ánh sáng rạng rỡ ngự trị trên toàn bộ thực thể.
Vẻ ngoài ngây ngất, đấy là sắc quyến rũ; là quần áo, mỹ phẩm,vai trò, nụ cười cử chỉ và phong cách đã học được. Và cái mà đàn bà đánh mất: các công cụ quyến rũ. Và cái mà kẻ đi quyến rũ buộc phải trải qua như một định mệnh: thừa nhận thứ đã lựa chọn là chiếc mặt nạ chứ không phải một khuôn mặt.
4. Sự sống người căng thẳng giữa sự tỉnh táo của ý nghĩa thượng đế và sự mê muội tối tăm. Giữa sự sống đàn bà là Sophia, Cô gái Trời và mụ phù thủy già đáng ghét, kẻ quyến rũ thất bại.
Truyền thống biết đến các tên gọi khác nhau của Sophia, cũng như biết đến tên gọi của các phù thủy – Hekate của Hy lạp, Dakini của Tây tạng, Kinapipiltin của Mexico- và truyền thống biết rằng, đây là con đường sự sống của đàn bà: sự tỉnh táo của người đàn bà là Sophia, là Cô gái Trời, là Cái Đẹp, sự Thông Thái, Tình Yêu Thương. Còn nỗi mê muội của đàn bà: sự quyến rũ, lôi kéo, phép màu phù thủy thể xác, những thứ mà người đàn bà là nạn nhân đầu tiên của nó.
Sự nhốn nháo hỗn loạn của sự sống trần thế, mà Veda gọi là luân hồi (szamszara), là bản chất quyến rũ và lôi kéo của sự sống vật chất, là maja. Đây là tính chất Prakriti, tính chất âm, là ảo vọng, sự mờ mịt, là mặt nạ, tấm màn che, là ảo ảnh, là vô tận của sự phản chiếu.
Bởi vậy truyền thống cổ gọi đất, thiên nhiên vật chất, sự sống thân xác con người là đàn bà, đấy là nguồn gốc và mang tính chất đàn bà. Đấy là luân hồi: các hình dạng, các thực thể, các ảo tưởng, sự phun ra và tuôn trào vô tận của các hình ảnh – một quá trình liên tục không thể dừng lại từ thế giới đàn bà. Đây là”nước” như Thales đã nói: là bắt đầu của mọi sự vật.
Thời kỳ lịch sử tưởng rằng người đàn bà đã cá nhân hóa tính chất ảo của thiên nhiên vật chất. Với niềm tin này tất nhiên con người luôn luôn sống trong viparjaja. Viparjaja có nghĩa là sự đảo ngược ý nghĩa gốc của sự vật.
Cái đầu tiên không phải là thiên nhiên vật chất mà là người đàn bà. Bởi vì khi con người-đàn ông và đàn bà- bị vật chất hóa, thực chất thế giới tinh thần đã bị vật chất hóa. Con người đã mang theo cả thiên nhiên lao xuống bóng tối. Và từ đó trở đi từ thực thể đàn bà tràn ngập ảo ảnh này, phép màu này để sự đông đảo nhốn nháo một cách hỗn loạn, để tràn lan một sự sinh sôi không thể dừng lại, nhưng trong toàn bộ sự đông đảo trống rỗng và không có gì hết;
Đây là sự quyến rũ mãnh liệt, vọng tưởng, như người Hy lạp nói: pszeudosz, apaté :  không cái gì mang khuôn mặt riêng, không gì và không ai là riêng mình,  chỉ là chiếc mặt nạ, mặt nạ lừa gạt, trong đó sự sống” đến ý nghĩa cũng không được thể hiện”, bởi vì toàn bộ sự thoái hóa  thuần túy chỉ là tiểu xảo, lừa lọc, một hội hóa trang đánh lừa.
„ Nơi không có cái gì ở đúng vị trí riêng của nó, ở đó tất cả chỉ muốn biến vị trí của người khác thành sự tranh cãi…Và không có gì ở đúng vị trí riêng của nó, chỉ bắt buộc phải có bởi người khác.”
Ảo ảnh, maja, không-hiện thực, như Platon nói, không phải là trạng thái bên ngoài. Đây là vị trí bị cưỡng bức phải tỉnh táo trong đờ đẫn. Đây là sự cưỡng bức trong ảo ảnh, là trạng thái ý thức mà Veda gọi là luân hồi (szamszara) và truyền thống Hy lạp gọi là ananke.
Linh hồn quanh quẩn giữa những hình ảnh tự phù phép riêng trong một nhu cầu. Đây là sự tê liệt của ý thức mà szamszara và ananke đã thắt nút  những sợi dây của số phận, dệt, đánh dạt, cắt rời: đây là những Moira, là những người đàn bà Định Mệnh, những kẻ phủ trên mặt mạng khăn choàng nặng dày, ngồi dệt và xe chỉ, vĩnh viễn và vô nghĩa, vô lý tháo tung những sợi dây sự sống của con người theo sự thất thường của họ.
5. Sự thất bại của đàn bà mang đến trạng thái bất tỉnh của linh hồn trên thế gian, nghĩa là linh hồn vật vờ lầm lạc trong sự phù phép. Trong trạng thái bất tỉnh này, như người Ai cập nói:”linh hồn thay đổi một cách bất lực theo điều nó muốn”. Bởi vậy thực thể thay đổi, biến thành sự đông đảo, sự sặc sỡ, sự hóa trang, thuần túy là nhầm lẫn (pszeudosz) thuần túy là mặt nạ.
Linh hồn đánh mất hình ảnh cổ, ánh sáng của Sophia, sự Thông Thái và Tình Yêu Thương. Và vì đánh mất ánh sáng cổ, nên cái gì nó cũng muốn, với khả năng thay đổi vô hạn, nó luân hồi trong các mức độ và góc cạnh không thể tính toán được mọi biến thái. Đây là ý nghĩa tượng trưng của một trong những tư tưởng luân hồi thời cổ.
Linh hồn ở trong trạng thái bị cưỡng bức, sống dưới sự phù phép và quyến rũ  của những hình ảnh mộng tự thân: linh hồn không bao giờ là cái TÔI cá nhân, mà là CON NGƯỜI, là NHÂN LOẠI, là LINH HỒN NGƯỜI, tồn tại không mục đích, phục vụ cho chuẩn mực riêng của mình với khát vọng thay đổi, mơ ước tất cả các hình ảnh mộng, rơi vào tất cả mọi ảo ảnh, một cách tò mò, mê muội; liên tục nhầm lẫn bản thân với các hình ảnh mộng, và đồn nhất mình với các kiểu mặt nạ.
Đây là maja mà linh hồn nếu tự đánh mất mình có thể hút vào. Tính chất linh hồn của nó từ từ, sau hàng triệu năm ngót dần, tan loãng. Nó có thể rơi vào hòa với lũ ma quỷ, quái vật, ma cà rồng, rơi vào các bông hoa, các loài chim, các loại đá, các vì sao, thiên thể. Chính bởi vì sự sống-maja là như vậy, không xác định hình dạng, thực thể, hình thức sự sống.
Linh hồn trong trí tưởng tượng, trải qua những ảo ảnh ngày càng mới hơn trong giấc mộng: các thực thể, các hiện tượng, các thế giới, các hình thức được tạo dựng rồi tan ra và nhường chỗ cho những ảo ảnh mới. Những hình thức, hình dạng, thực thể, các sự kiện này trống rỗng và không nội dung. Phi bản thể. Maja là phép thuật và phi hiện thực. Là ảo ảnh của linh hồn bất lực, ảo ảnh bốc hơi bay đi không đọng lại bất cứ một cái gì.
Ở đây linh hồn sống trong sự phù phép, trong thế giới vật chất, trong trạng thái buồn ngủ: một hình ảnh duy nhất của quá khứ nó cũng không muốn từ bỏ. Nó chìm nghỉm một cách lười biếng vào những ảo giác tự thân, lặp đi lặp lại, không thức tỉnh, vô hướng, tối tăm, ngất lịm trong những khả năng vô tận riêng và sự giàu có riêng của nó.
Nó muốn nếm thử tất cả, muốn kinh nghiệm tất cả những gì nó nghĩa rằng chính là nó. Nhưng đó không phải là nó, đó là maja, là phép thuật. Sự thèm khát này, cảm giác đói khát sống này không bao giờ thỏa mãn và thật đáng xấu hổ, là sự nhồm nhoàm, nuốt chửng đời sống vô giới hạn, là đặc tính của sự sống-maja.
Trong thế giới vật chất, trong thời kỳ muộn mằn sau này, dưới thời khải huyền sự tỉnh táo gần như ngủ yên, và bản chất đàn bà này của sự sống trở thành kẻ thống trị.
Sự tham muốn trơ trẽn, thực thể đàn bà, chủ yếu là đặc tính xác thịt đàn bà, bị lộ tẩy. Lộ tẩy hay nói đúng hơn bị lên án, bởi vì đây chính là khải huyền (apokalipsis), là bản án, là giai đoạn cuối cùng của tạo hóa.
Eva là thực thể đồng hóa mình hoàn toàn với thân xác, và sự độc lập của linh hồn trong Eva không hề hiện ra cũng chẳng hề nhen nhóm. Eva càng nhầm lẫn mình với thể xác mình bao nhiêu, người đàn bà càng tham lam, đói khát và ham muốn bấy nhiêu: càng đắp lên mình một cách đói khát những ảo ảnh ham muốn của thế gian bao nhiêu, Eva càng quyến rũ  nhiều thêm những thực thể và đồ vật ham muốn bấy nhiêu.
 „ Mang tất cả đến đây cho ta”- thân xác đàn bà lên tiếng. Bởi vậy cái khoảnh khắc truyền thống cổ, khi con người đặt cái TÔI bản thân mình vào giữa trung tâm sự sống một cách trái phép, là bắt nguồn từ sự sống đàn bà.
Truyền thống gọi người đàn bà thân xác tuyệt đối là phù thủy. Đây là Hekate, Kinapipiltin, Dakini, những kẻ không là gì khác ngoài xác thịt thuần túy.
Đây là hình ảnh của sắc hấp dẫn cổ  Sophia-Tình Yêu Thương- sự Thông Thái đã bị chìm đắm và tăm tối hóa, khi người đàn bà đồng hóa bản thân mình với xác thịt của mình, mong muốn thực hiện tính chất phổ quát của các thực thể và các sự vật bằng cách sử dụng thân xác.
Đây là sự tham lam đói khát, là hình ảnh hư hỏng của phép màu thượng đế của Sophia: là sự phù phép của quyến rũ. Tại đây người đàn bà đạt đến mức độ mà truyền thống đặt tên là sự tăm tối bên ngoài. Trong khoảnh khắc này Szét biến thành con mồi- khi thực thể cổ, Cô gái Trời bị quên biến, giữ lại mỗi thân xác là một hiện thực duy nhất.
Người đàn bà quay lưng lại với Aton, ánh sáng bên trong, và phục vụ thân xác bên ngoài. Kẻ nào quay ra ngoài, kẻ đó bị bóng tối nuốt chửng.
6. Tất cả mọi căng thẳng- Baader nói – Tất cả mọi nhị nguyên thực ra đều là xung đột – sự rối loạn hoàn cảnh xảy ra trong thế giới cực, điện từ, đều là kết quả di căn của nó. Tính chất nhị nguyên và xung đột sau rốt xuất xứ từ sự căng thẳng và rối loạn của hoàn cảnh chủ yếu nhất: giới tính, hai giới tính, tính chất nhị nguyên của đàn ông và đàn bà.”
Sự sống đàn bà cũng liên quan đến những bến đỗ như sự sống người: nhận thức ra trạng thái cổ, ra quá trình vật chất hóa, ra sự thức tỉnh, sự lặp lại, sự tăm tối bên ngoài và sự giải thoát. Nhưng những bến đỗ mang đặc tính đàn bà đặc thù, không thể nhầm lẫn với những bến đỗ của đàn ông.
Chính vì vậy, khi nói về sự giải thoát của thực thể đàn bà, không được phép tin rằng ở đây mục đích là quay trở lại ý nghĩa thượng đế. Đàn bà không giải thoát bằng việc quay trở lại với tri thức thượng đế, mà quay trở về trong hình ảnh người đàn bà cổ, Trinh Nữ Trời.
Những hình ảnh tượng trưng của giải thoát đàn bà: Izis trên tay là Horus bé bỏng, là Magna Mater (Đức Mẹ Đồng Trinh) trên tay bồng con trẻ tượng trưng cho nhân loại. Trong thực thể đàn bà thức tỉnh tình yêu thương thượng đế. Bởi tình yêu thương là mức độ cao nhất của sự tỉnh táo. Trong hình hài này người đàn bà quay trở về với MỘT, với TẠO HÓA.
Truyền thống Ấn độ cho rằng, cùng với sự biến mất những chu kỳ thế giới lớn,  tất cả sức mạnh và khả năng của tạo hóa tích tụ và tinh khiết lại trong một dạng hình. Dạng hình đó là: Sakti. Là bản chất của sự sống.
Và Sakti, Người Đàn Bà, ngủ qua đêm thế gian cùng Brahman. Nhưng khi năm mới của thế gian lại bắt đầu, sự tạo dựng mới bắt đầu, từ bản thân mình người đàn bà một lần nữa phóng tỏa ra thế gian các sức mạnh của mình.
( Budapest. 2012-04-17)